UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG THCS NHAM BIỀN SỐ 1 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: “Đa dạng hóa hình thức hoạt động khởi động trong giảng dạy môn Lịch sử và địa lí lớp 8 (mạch kiến thức địa lí) nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh”. Người viết sáng kiến: Nguyễn Thị Ánh Tuyết Ngày, tháng, năm sinh: 16/9/1984. Nam/nữ: Nữ Trình độ chuyên môn: Đại học Chuyên ngành: Sư phạm Địa lí Điện thoại: 035 411 8887 E-mail: [email protected] Cơ quan chủ trì: Trường THCS thị trấn Nham Biền số 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN Nham Biền, năm 2025 Nham Biền, tháng 05 năm 2054 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Đa dạng hóa hình thức hoạt động khởi động trong giảng dạy môn Lịch sử và địa lí lớp 8 (mạch kiến thức địa lí) nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 09/9 của năm học 2024- 2025 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Hoạt động khởi động trong các tiết học Lịch sử và Địa lí lớp 8 (cũng như nhiều môn học khác) thường được thực hiện một cách đơn giản, lặp đi lặp lại. Các hình thức phổ biến cũ giáo viên thường làm như: - Kiểm tra bài cũ: Giáo viên đặt câu hỏi trực tiếp cho một vài học sinh về kiến thức đã học ở bài trước. Hoặc cho một vài câu hỏi trắc nghiệm đơn giản để kiểm tra kiến thức cũ. - Nhắc lại kiến thức cũ: Giáo viên tự tóm tắt lại những điểm chính của bài học trước hoặc cho học sinh tóm tắt lại. - Đặt câu hỏi mở đầu đơn giản như: Hôm nay chúng ta sẽ học về... Các em có biết gì về điều này không?" - Sử dụng hình ảnh/video đơn giản: Trình chiếu một hình ảnh hoặc đoạn video ngắn liên quan đến bài học và đặt câu hỏi gợi mở. Với hình thức khởi động mà giáo viên thường sử dụng như trên dễ gây nhàm chán cho học sinh. Việc lặp đi lặp lại các hình thức khởi động quen thuộc khiến học sinh cảm thấy đơn điệu, thiếu hứng thú ngay từ những phút đầu tiên của giờ học. - Không thu hút được sự chú ý của nhiều học sinh, chỉ một vài học sinh được gọi trả lời hoặc tham gia, phần lớn học sinh còn lại thụ động, không tập trung. Ít kích thích tư duy và sự chủ động. Các hình thức khởi động cũ thường chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kiến thức ghi nhớ, ít khuyến khích học sinh suy nghĩ, khám phá, hoặc kết nối kiến thức theo những cách sáng tạo. - Chưa khai thác hiệu quả đặc thù môn Địa lí: Môn Địa lí có rất nhiều yếu tố trực quan, sinh động (bản đồ, hình ảnh, số liệu, các hiện tượng tự nhiên...) nhưng các hoạt động khởi động cũ chưa tận dụng hết các nguồn tài nguyên này để tạo sự hấp dẫn. - Không tạo được “cú hích” tâm lý: Hoạt động khởi động cũ không tạo được sự tò mò, mong muốn được tìm hiểu, khám phá kiến thức mới ở học sinh. Học sinh bước vào bài học một cách “bị động” thay vì “chủ động”. - Khó phù hợp với nhiều đối tượng học sinh: Các hình thức khởi động cũ thường không phân hóa, khó đáp ứng được nhu cầu và sở thích đa dạng của học sinh trong một lớp học. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Một trong các hoạt động tạo hứng thú và năng lượng tích cực học tập cho học sinh phải kể đến là hoạt động mở đầu (khởi động). Không phải bất cứ học sinh nào đều có sẵn niềm say mê, yêu thích đối với môn học. Vì vậy, nhiệm vụ của hoạt động mở đầu là khơi gợi hứng thú để vào bài học và hơn thế nữa, còn khơi dậy niềm đam mê, bồi đắp tình yêu đối với môn học. - Tăng cường hứng thú học tập: Hoạt động khởi động là "cửa ngõ" dẫn dắt học sinh vào bài học. Một khởi đầu hấp dẫn, mới lạ sẽ tạo ấn tượng tốt, kích thích sự tò mò và mong muốn được tìm hiểu nội dung bài học của học sinh. - Thu hút sự chú ý và tập trung: Trong bối cảnh có nhiều yếu tố phân tán (điện thoại, mạng xã hội...), việc tạo ra một hoạt động khởi động lôi cuốn giúp học sinh nhanh chóng chuyển từ trạng thái "thụ động" sang "chủ động" tập trung vào bài giảng. - Kích hoạt kiến thức nền và kinh nghiệm cá nhân: Các hình thức khởi động đa dạng có thể giúp học sinh huy động lại những kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết đã có liên quan đến nội dung bài học, tạo nền tảng vững chắc để tiếp thu kiến thức mới. - Phát triển kỹ năng mềm: Nhiều hình thức khởi động mới có thể được thiết kế dưới dạng trò chơi, thử thách, hoạt động nhóm..., tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện các kỹ năng quan trọng như làm việc nhóm, giao tiếp, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề. - Tạo không khí học tập tích cực: Một hoạt động khởi động vui tươi, sôi nổi sẽ giúp giảm bớt căng thẳng, tạo không khí thoải mái, thân thiện trong lớp học, khuyến khích học sinh mạnh dạn tham gia và tương tác trong các hoạt động. - Nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức: Khi học sinh có hứng thú và tập trung ngay từ đầu, việc tiếp thu kiến thức mới sẽ hiệu quả hơn. - Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục: Chương trình giáo dục phổ thông mới (Chương trình GDPT 2018) chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, yêu cầu giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có hoạt động khởi động. - Phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi: Học sinh lớp 8 đang trong giai đoạn phát triển mạnh về tâm lý, thích khám phá, thích được thể hiện bản thân. Các hoạt động khởi động đa dạng, mang tính tương tác cao sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu này. Năm học 2024-2025, tôi được phân công giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 8A3 và lớp 8A4. Tôi đã tiến hành khảo sát đầu năm về “Hứng thú của học sinh với hoạt động khởi động” và “Chất lượng học tập của học sinh”. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 1 nửa số học sinh trong lớp không thích cũng không ghét hoạt động khởi động, có một số em không thích hoạt động này. Chất lượng học tập môn Lịch sử và Địa lí của học sinh đầu năm lớp 8 không cao. Chỉ có số ít học sinh đạt điểm 9, 10; trên một nửa số học sinh trong lớp đạt điểm trung bình 5,6; trong khi có nhiều học sinh điểm dưới trung bình. Xuất phát từ những vấn đề trên, đồng thời để đáp ứng được yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông mới, với xu hướng dạy học hiện nay là lấy người học làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn tổ chức các hoạt động cho học sinh, góp phần phát triển các năng lực, hình thành phẩm chất cho học sinh, tôi đã lựa chọn giải pháp trên để thực hiện. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Giải pháp mà tôi thực hiện trước hết với mong muốn khắc phục được những hạn chế của giải pháp cũ thường làm, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Cụ thể là: - Giảm thiểu sự đơn điệu, nhàm chán: Bằng cách cung cấp một "thực đơn" phong phú các hình thức khởi động, giáo viên có thể thay đổi liên tục, tạo sự mới mẻ và bất ngờ cho học sinh trong mỗi giờ học. - Tăng cường sự tham gia của tất cả học sinh: Thiết kế các hoạt động khởi động mang tính tương tác cao, khuyến khích làm việc nhóm, hoặc sử dụng các công cụ công nghệ để tất cả học sinh đều có cơ hội tham gia và đóng góp. - Kích thích tư duy bậc cao: Vượt ra khỏi việc kiểm tra kiến thức ghi nhớ, các hoạt động khởi động mới sẽ tập trung vào việc đặt vấn đề, giải quyết tình huống, phân tích hình ảnh/số liệu... để học sinh phải suy nghĩ, lập luận. - Tận dụng tối đa tiềm năng của môn học: Sử dụng các nguồn tài nguyên địa lí (bản đồ, Atlat, số liệu thống kê, hình ảnh vệ tinh, video...) một cách sáng tạo trong hoạt động khởi động. - Tạo động lực học tập nội tại: Thay vì học vì bị ép buộc, các hoạt động khởi động hấp dẫn sẽ khơi gợi sự tò mò, mong muốn tự thân được tìm hiểu và khám phá kiến thức. Không phải bất cứ học sinh nào đều có sẵn niềm say mê, yêu thích đối với môn học. Vì vậy, nhiệm vụ của hoạt động mở đầu là khơi gợi hứng thú để vào bài học và hơn thế nữa, còn khơi dậy niềm đam mê, bồi đắp tình yêu đối với môn học. Bên cạnh đó, giải pháp cũng sẽ góp phần: - Xây dựng "ngân hàng" các hoạt động khởi động sáng tạo: Cung cấp cho giáo viên một bộ sưu tập các ý tưởng và cách thức tổ chức hoạt động khởi động hiệu quả, phù hợp với từng bài. - Phát triển kỹ năng thiết kế hoạt động khởi động cho giáo viên: Giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm và sự tự tin trong việc sáng tạo ra các hoạt động khởi động phù hợp với đặc thù lớp học và học sinh của mình. - Nâng cao chất lượng môn học: Góp phần tạo ra những giờ học sôi nổi, hiệu quả, trong đó học sinh là chủ thể tích cực của hoạt động học tập. - Góp phần thực hiện thành công Chương trình GDPT 2018: Đổi mới hoạt động khởi động là một bước đi quan trọng trong việc chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến Để tổ chức hoạt động khởi động cho các giờ học đạt hiệu quả, trước hết tôi thực hiện một số bước như sau: * Bước 1: Phân tích nội dung bài học và xác định mục tiêu khởi động. - Trước khi thiết kế hoạt động khởi động, giáo viên cần đọc kỹ nội dung bài học sắp dạy. - Xác định kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực cần hình thành cho học sinh thông qua bài học. - Suy nghĩ về "điểm neo" kiến thức: Bài học mới có liên quan gì đến kiến thức cũ? Có điều gì thú vị, bất ngờ, hoặc gần gũi với cuộc sống của học sinh liên quan đến bài học không? - Xác định mục tiêu cụ thể của hoạt động khởi động: Hoạt động này nhằm mục đích gì? (Ví dụ: Ôn lại kiến thức cũ, giới thiệu chủ đề bài học, tạo tình huống có vấn đề, kích thích sự tò mò...). * Bước 2: Lựa chọn hình thức hoạt động khởi động phù hợp. - Dựa trên mục tiêu khởi động và nội dung bài học, giáo viên lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều hình thức hoạt động khởi động đã được xây dựng (hoặc sáng tạo ra hình thức mới). - Cân nhắc một số các yếu tố như: + Thời gian cho phép (thường 5-7 phút). + Số lượng học sinh trong lớp. + Cơ sở vật chất (máy tính, ti vi, loa, kết nối internet...). + Đặc điểm và trình độ của học sinh. + Mức độ tương tác mong muốn. * Bước 3: Thiết kế chi tiết hoạt động khởi động. - Xác định rõ các bước tiến hành của hoạt động: Giáo viên làm gì? Học sinh làm gì? - Chuẩn bị các vật liệu, công cụ cần thiết: Hình ảnh, video, âm thanh, bản đồ, phiếu bài tập, câu hỏi, đạo cụ (nếu có)... - Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách xử lý. - Thiết kế câu hỏi hoặc nhiệm vụ rõ ràng, hấp dẫn, có tính thử thách vừa sức. - Suy nghĩ về cách dẫn dắt từ hoạt động khởi động vào bài học mới một cách logic và tự nhiên. * Bước 4: Tổ chức thực hiện hoạt động khởi động trên lớp. - Giới thiệu hoạt động khởi động một cách thu hút, tạo sự mong chờ cho học sinh. - Nêu rõ luật chơi hoặc yêu cầu của hoạt động. - Quan sát, hỗ trợ và động viên học sinh tham gia. - Quản lý thời gian hợp lý. - Tổng kết hoạt động khởi động và khéo léo chuyển sang nội dung bài học mới. * Bước 5: Đánh giá và điều chỉnh. - Sau khi thực hiện, giáo viên cần tự đánh giá hiệu quả của hoạt động khởi động: Học sinh có hứng thú không? Hoạt động có đạt được mục tiêu đề ra không? Có điểm nào cần cải thiện không? - Thu thập ý kiến phản hồi từ học sinh (có thể thông qua quan sát hoặc hỏi trực tiếp). - Lưu lại những hoạt động hiệu quả và rút kinh nghiệm cho những lần sau. Bổ sung vào "ngân hàng" các hoạt động khởi động của bản thân. Trong quá trình thực hiện, tôi đã tổ chức đa dạng nhiều hoạt động khởi động khác nhau trong các giờ học. Trong đó, có một số giải pháp thường được sử dụng phổ biến, đó là: Giải pháp 1. Tổ chức khởi động dưới dạng trò chơi Giải pháp 2. Tổ chức khởi động bằng sử dụng tranh ảnh, video Giải pháp 3. Tổ chức khởi động qua sử dụng âm nhạc Giải pháp 4. Tổ chức khởi động bằng sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ. Giải pháp 5. Tổ chức khởi động bằng hình thức đóng vai. Nội dung cụ thể của từng biện pháp như sau: a)Giải pháp 1. Tổ chức khởi động dưới dạng trò chơi - Trò chơi là một hình thức tổ chức hoạt động dạy - học có tác dụng giáo dục tích cực, lôi cuốn học sinh mà hầu hết các em đều hứng thú. * Mục tiêu: Lôi cuốn học sinh tham gia vào các hoạt động học tập một cách tự nhiên, tích cực, chủ động; hình thành cho các em tác phong nhanh nhẹn, phát huy tính sáng tạo, sự tương tác giữa học sinh với học sinh. Tạo hứng thú, giúp cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn. * Cách thức thực hiện - Bước 1: Giáo viên lựa chọn một trò chơi phù hợp (Nhìn hình đoán chữ, Ô chữ bí mật, Vòng quay may mắn, Ai nhanh hơn, Lật mảnh ghép...) - Bước 2: Giáo viên phổ biến luật chơi và tổ chức trò chơi - Bước 3: HS tham gia trò chơi dưới sự dẫn dắt của giáo viên. - Bước 4: Giáo viên nhận xét và kết nối vào bài học. * Ví dụ: Bài 3 - Phần Địa lí 8: Khoáng sản Việt Nam Giáo viên cho học sinh tham gia trò chơi với tên gọi: Ô chữ bí mật + Bước 1: Giáo viên phổ biến cách chơi cho cả lớp nắm được, trả lời các câu hỏi để tìm ra các từ hàng ngang. - Trò chơi ô chữ gồm 5 chữ cái được đánh số từ 1 đến 5 sẽ tương ứng với 5 câu hỏi. - Các em dựa vào kiến thức đã học để trả lời, các em có quyền lựa chọn thứ tự câu hỏi để trả lời, mỗi câu hỏi có 2 lượt trả lời. - Em nào trả lời đúng sẽ nhận được 1 phần quà nhỏ (ví dụ 1 cây bút) và ô chữ sẽ hiện ra chữ cái tương ứng, trả lời sai ô chữ sẽ bị khóa lại, trong quá trình trả lời, em nào trả lời đúng tên ô chữ thì sẽ nhận được phần quà lớn hơn (ví dụ 3 cây bút). - Hệ thống câu hỏi: Câu 1. Dãy núi cao nhất ở nước ta là: A. Pu Sam Sao B. Hoàng Liên Sơn C. Trường Sơn D. Con Voi Câu 2. Sông nào sau đây chảy theo hướng vòng cung? A. sông Đà B. sông Cầu C. sông Hồng D. sông Mã Câu 3. Cao nguyên Sơn La nằm ở khu vực: A. Trường Sơn Nam B. Đông Bắc C. Tây Bắc D. Trường Sơn Bắc Câu 4. Ngành kinh tế phát triển chủ yếu ở địa hình đồi núi là: A. thủy sản B. trồng lúa C. thủy điện D. khai thác dầu khí. Câu 5. Thiên tai thường xảy ra ở địa hình đồng bằng là: A. hạn hán B. lũ quét C. xói mòn D. sạt lở đất + Bước 2: HS dựa vào gợi ý của giáo viên để tìm ra các từ hàng ngang + Bước 3: Các từ hàng ngang sẽ có mối quan hệ mật thiết với từ khóa cần tìm kiếm và học sinh có thể đoán luôn ra từ khóa cần tìm hoặc suy nghĩ trả lời lần lượt hết các câu hỏi. + Bước 4: Giáo viên nhận xét kết quả và dẫn dắt vào bài mới. Khi tham gia trò chơi này học sinh phải huy động năng lực địa lí như ghi nhớ, tạo không khí thi đua sôi nổi giúp giờ học trở nên hấp dẫn. b) Giải pháp 2. Tổ chức khởi động bằng sử dụng tranh ảnh, video Trong hoạt động mở đầu của giờ học Địa lí, tranh ảnh, video địa lí có nhiều nội dung đa dạng, phong phú, hấp dẫn mà giáo viên dễ dàng sử dụng. * Mục tiêu: Sử dụng tranh ảnh, video kích thích sự hứng thú trong học tập và phát triển kỹ năng quan sát và năng lực cảm nhận bằng các giác quan của học sinh. Học sinh vừa được nhìn, được nghe, hoạt động tư duy và sáng tạo. Hoạt động này phù hợp với quy luật nhận thức từ “trực quan sinh động” đến “tư duy trừu tượng”. Khi xem video, giúp cho học sinh phát huy được nhiều năng lực như sử dụng công cụ địa lí, quan sát hình ảnh để trình bày, giải thích hiện tượng địa lí từ đó vận dụng kiến thức kĩ năng đã học vào thực tiễn. * Cách thức thực hiện: - Bước 1: Giáo viên cho học sinh xem các video, tranh ảnh. - Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi, yêu cầu học sinh suy nghĩ, vận dụng kiến thức, năng lực của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao. - Bước 3: Học sinh khác nhận xét, bổ sung - Bước 4: Giáo viên nhận xét, kết nối vào bài học. * Ví dụ: Bài 1 – Phần Địa lí 8: Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Gv cho HS xem đoạn video dài 1 phút 50 giây về Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam GV: Qua video em hãy chia sẻ những hiểu biết của bản thân về vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khi tổ chức khởi động bằng hình thức này, học sinh sẽ rất hào hứng khi được xem video, kích thích khả năng quan sát, ghi nhớ và tư duy của học sinh, Giải pháp 3. Tổ chức khởi động qua sử dụng âm nhạc * Mục tiêu: Phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh trong các bộ môn có nội dung liên quan đến bài học; tạo sự hứng thú, động lực để các em sáng tạo, biết vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. * Cách thức thực hiện - Bước 1: Giáo viên lựa chọn đoạn nhạc của bài hát có nội dung liên quan đến bài học, yêu cầu học sinh tìm hiểu, khám phá. - Bước 2: Học sinh vận dụng các năng lực của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ được giao. - Bước 3: Một học sinh trả lời, học sinh khác nhận xét - Bước 4: Giáo viên đánh giá, kết nối vào bài. * Ví dụ 1 Bài 4 – Phần Địa lí 8: Khí hậu Việt Nam GV: Cho học sinh nghe bài hát "Sợi nhớ sợi thương". GV: Trong bài hát Sợi nhớ, sợi thương có câu “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây/ Bên nắng đốt, bên mưa quay”. Em hãy cho biết câu hát đó nói về hiện tượng gì của khí hậu ở nước ta? Hiện tượng đó xảy ra ở miền tự nhiên nào và vào mùa nào ở nước ta? * Ví dụ 2: Chương 4 – Phần Địa lí 8: Biển đảo Việt Nam (Bài 11, 12) GV: cho học sinh nghe bài hát: “Nơi Đảo Xa” GV: Sau khi nghe những giai điệu ngọt ngào sâu lắng của bài hát “Nơi Đảo Xa”của nhạc sĩ Thế Song em có cảm nhận gì về vùng biển, đảo của Tổ quốc mình? HS: Nêu cảm nhận của mình. GV: Nhận xét, kết nối vào bài. Việc khởi động bài học bằng âm nhạc mang lại nhiều hiệu quả bất ngờ. Âm nhạc tạo ra không khí vui tươi, hứng khởi, giúp học sinh nhanh chóng tập trung và sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới. Nó còn kích thích sự sáng tạo, tăng cường khả năng ghi nhớ và tạo sự kết nối giữa các học sinh, từ đó giờ học trở nên sinh động và hiệu quả hơn rất nhiều. Giải pháp 4. Tổ chức khởi động bằng sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ. * Mục tiêu: Thu hút được chú ý của HS, tạo sự mới mẻ, kích thích hứng thú HS. * Cách thức thực hiện: - Bước 1: GV đưa ra câu thơ, ca dao, tục ngữ hoặc trích dẫn câu nói nổi tiếng liên quan bài học. Hoặc có thể cho học sinh sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ liên quan đến nội dung bài học. - Bước 2: HS phân tích, nhận xét. - Bước 3: Học sinh trả lời, học sinh khác nhận xét. - Bước 4: GV đánh giá, dẫn dắt vào bài. * Ví dụ Bài 9 - Địa lí 8: Thổ nhưỡng Việt Nam Hoạt động khởi động giáo viên chiếu lên màn hình một số câu ca dao, tục ngữ Việt Nam bị khuyết một số từ. .trồng cây khẳng khiu Những người thô tục nói điều phàm phu. ( Đất xấu) chim đậu ( Đất lành) Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu .,tấc vàng bấy nhiêu. (tấc đất) - Học sinh dựa vào sự hiểu biết của bản thân để đoán từ đúng điền vào chỗ chấm. Giáo viên cho cả lớp làm việc cá nhân. Học sinh nào có đáp án nhanh nhất sẽ được quyền trả lời. - Từ đó, giáo viên dẫn dắt vào bài học cho thấy vai trò quan trọng của thổ nhưỡng Việt Nam. Việc khởi động bài học bằng ca dao, tục ngữ mang lại những hiệu quả rất thiết thực. Ca dao, tục ngữ là kho tàng tri thức dân gian, giúp học sinh kết nối với văn hóa truyền thống và mở rộng vốn từ, lồng ghép kiến thức liên môn. Việc phân tích ý nghĩa của chúng còn rèn luyện tư duy phản biện, khả năng suy luận và tạo không khí học tập gần gũi, thân thuộc, chuẩn bị tâm thế tốt nhất cho bài học. Giải pháp 5. Tổ chức khởi động bằng hình thức đóng vai. * Mục tiêu: Giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát. Học sinh hứng thú và phát huy óc sáng tạo. Giáo dục học sinh điều chỉnh thái độ, hành vi cho phù hợp. * Cách thức thực hiện: - Bước 1: Vào cuối tiết học trước, giáo viên giao nhiệm vụ đóng vai cho học sinh và quy định rõ thời gian. - Bước 2: Học sinh thảo luận chuẩn bị trước ở nhà, đóng vai. - Bước 3: Học sinh xung phong lên trình bày, học sinh khác nhận xét. - Bước 4: Giáo viên nhận xét đưa ra kết luận. * Ví dụ Bài 7 - Phần Địa lí 8: Vai trò của tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. - Tên hoạt động: "Cuộc gặp gỡ của Nước và Khí hậu" - Thời lượng: Khoảng 5-7 phút - Mục tiêu: Tạo không khí sôi nổi, thu hút sự chú ý của học sinh, gợi mở về mối quan hệ và vai trò của tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước đối với đời sống và sản xuất. - Chuẩn bị: + Hai học sinh tình nguyện (hoặc bạn chỉ định trước). + Một vài tấm thẻ nhỏ ghi tên các vai: "Nước" và "Khí hậu". + Có thể chuẩn bị thêm một vài đạo cụ đơn giản như: một bình nước nhỏ (tượng trưng cho Nước), một quạt giấy (tượng trưng cho Khí hậu). - Cách tiến hành: + Giới thiệu: Giáo viên giới thiệu hoạt động khởi động sẽ là một màn kịch ngắn do hai bạn học sinh đóng vai. + Phân vai: Giáo viên mời hai học sinh lên, trao thẻ tên vai và đạo cụ (nếu có). + Sắm vai: Hai học sinh sẽ sắm vai Nước và Khí hậu gặp gỡ và trò chuyện với nhau. Nội dung cuộc trò chuyện có thể xoay quanh những ý sau: Nước giới thiệu về bản thân (ở sông, hồ, biển, mưa...). Khí hậu giới thiệu về bản thân (nóng, lạnh, mưa nhiều, mưa ít...). Cả hai cùng nói về việc mình quan trọng như thế nào đối với con người, cây cối, động vật. Họ có thể "kể tội" nhau một chút (ví dụ: "Khí hậu ơi, cậu nóng quá làm tớ bốc hơi hết cả!", "Nước ơi, cậu mưa nhiều quá làm tớ ẩm thấp khó chịu!"). Tuy nhiên, cuối cùng cả hai đều nhận ra rằng họ không thể sống thiếu nhau và cùng nhau giúp ích cho con người. Có thể kết thúc bằng câu hỏi mở cho cả lớp: "Vậy theo các bạn, chúng tôi (Nước và Khí hậu) đã giúp ích cho con người như thế nào trong cuộc sống và sản xuất?" Kết nối với bài học: Sau khi màn sắm vai kết thúc, giáo viên khen ngợi hai bạn học sinh và kết nối với nội dung bài học: "Các bạn Nước và Khí hậu vừa cho chúng ta thấy họ rất quan trọng. Bài học hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về vai trò cụ thể của tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chúng ta." Ưu điểm của hoạt động này: Hấp dẫn, mới lạ, tạo sự hứng thú, tò mò cho học sinh. Trực quan, sinh động: Giúp học sinh dễ hình dung về vai trò của hai yếu tố tự nhiên này. * Kết quả của sáng kiến Trước khi áp dụng biện pháp: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia hoạt động khởi động phân môn Địa lí.(Đầu năm) Rất Không Hứng thú Bình thường Lớp Số hs hứng thú hứng thú SL % SL % SL % SL % 8A3 – Lớp 40 HS 0 0.0 10 25 22 55 8 20 đối chứng 8A4 – Lớp 40 HS 0 0.0 11 26.8 23 56.1 7 17.1 thực nghiệm Sau khi áp dụng biện pháp: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia hoạt động khởi động phân môn Địa lí.(Cuối năm học) Rất Hứng thú Bình thường Không Lớp Số hs hứng thú hứng thú SL % SL % SL % SL % 8A3 – Lớp 40 HS 5 12.5 22 55.0 8 20.0 5 12.5 đối chứng 8A4 – Lớp 40 HS 15 36.6 24 58.5 2 4.9 0 0.0 thực nghiệm Qua kết quả khảo sát ta thấy sự khác biệt rõ ràng giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Cơ bản các học sinh đã hứng thú hoạt động khởi động, tỉ lệ học sinh rất hứng thú và hứng thú tăng lên rõ rệt. Qua khảo sát chất lượng đầu năm với cuối năm học, có được kết quả như sau: Kết quả khảo sát chất lượng học sinh đầu năm qua bài khảo sát phân môn Địa lí Điểm Điểm 7->8 Điểm 5->6 Điểm 2->4 Điểm 0->1 Lớp Số hs 9->10 SL % SL % SL % SL % SL % 8A3– Lớp 40 0 0.0 5 12.5 26 65 9 22.5 0 0.0 đối chứng 8A4 – Lớp 40 2 4.9 8 20 23 56.1 7 17.1 0 0.0 thực nghiệm Kết quả khảo sát chất lượng học sinh cuối năm qua bài khảo sát phân môn Địa lí Điểm Điểm 7->8 Điểm 5->6 Điểm 2->4 Điểm 0->1 Lớp Số hs 9->10 SL % SL % SL % SL % SL % 8A3 – Lớp 40 4 10.0 21 52.5 11 27.5 4 10 0 0.0 đối chứng 8A4 – Lớp 40 14 35.0 23 56.1 3 7.3 0 0.0 0 0.0 thực nghiệm Qua bảng số liệu trên, ta thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm trên trung bình và điểm 9-10 tăng lên. Đặc biệt không còn học sinh điểm dưới trung bình. * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp Sau quá trình thực nghiệm việc đổi mới phương pháp trong dạy học cho học sinh 8A4 ở trường THCS Nham Biền số 1, tôi thu được một số kết quả như sau: - Học sinh đã hứng thú hơn khi học phân môn Địa lí, đặc biệt là hoạt động khởi động đầu giờ học. - Học sinh có kĩ năng học tập tốt hơn, mạnh dạn, tự tin và tích cực hơn khi học tập. - Chất lượng học tập của học sinh với phân môn Địa lí đã được cải thiện rõ rệt. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến - Sáng kiến này không chỉ áp dụng đối với hoạt động khởi động mà có thể áp dụng cho các hoạt động luyện tập, củng cố; hoạt động khai thác kiến thức mới trong các giờ học. - Sáng kiến có thể áp dụng cho tất cả giáo viên và học sinh đang giảng dạy và học tập môn Địa lí ở tất cả các khối lớp cấp THCS. Đồng thời cũng có thể áp dụng cho nhiều môn học khác trong và ngoài nhà trường giúp mang lại hiệu quả tốt hơn. - Để áp dụng sáng kiến hiệu quả, cần có sự chuẩn bị chu đáo về giáo án, học liệu (hình ảnh, video, bản đồ, vật dụng cho trò chơi...). Giáo viên cần có tinh thần đổi mới, sáng tạo và sẵn sàng thử nghiệm các phương pháp dạy học mới. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ phía nhà trường về cơ sở vật chất (máy chiếu, loa, không gian học tập...) cũng rất quan trọng. - Với tính linh hoạt và khả năng điều chỉnh, sáng kiến này hoàn toàn có thể được nhân rộng và áp dụng bởi các giáo viên Địa lí khác trong và ngoài trường. Các hoạt động được thiết kế không quá phức tạp, dễ dàng triển khai trong điều kiện dạy học phổ thông. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến - Đa dạng hóa hình thức khởi động trong phân môn Địa lí đã giúp học sinh hứng thú hơn khi học tập, học sinh tự tin, say mê hơn với môn học. - Giáo viên và học sinh có thể chủ động nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, tạo thành kho học liệu cho các giờ học. Qua đó, giảm bớt chi phí mua sắm các tài liệu cho môn học. - Bản thân giáo viên cũng trau dồi thêm kiến, kĩ năng sử dụng đồ dùng trực quan cho mình đồng thời cũng làm mới bài học tránh sự nhàm chán, hay lặp lại. Học sinh say mê, hào hứng học tập, phát triển cả năng lực và phẩm chất cho học sinh. - Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí, tôi thấy rất phấn khởi và thêm yêu nghề, yêu công việc của mình hơn. Kết quả bước đầu đó là động lực để tôi thêm say mê sáng tạo, vận dụng nhiều các phương pháp đổi mới để nâng cao hơn nữa kết quả học tập, giảng dạy của bộ môn Địa lí. * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Tài liệu đính kèm: