Giáo án Ngữ văn 8 - Tuần 31, Tiết 13+14: Ôn tập

doc 4 trang Người đăng Hải Biên Ngày đăng 28/11/2025 Lượt xem 5Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn 8 - Tuần 31, Tiết 13+14: Ôn tập", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Tuần 31 ÔN TẬP 
 Tiết 13, 14
 A. Mục tiêu cần đạt:
 Ôn tập lại các kiến thức và rèn kĩ năng làm văn nghị luận qua bài kiểm tra
 B. Chuẩn bị: 
 Thầy: Các dạng bài tập 
 Trò: Ôn tập
 C. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy và học:
 1. Kiểm tra: sự chuẩn bị
 2. Ôn tập
 Hoạt động của thầy và trò Nội dung
 Đề bài: Câu 1: a. - Vai xã hội là vị trí của người tham gia 
Câu1Câu 1: Thế nào là vai xã hội hội thoại đối với người khác trong cuộc thoại.
 trong hội thoại ? Vai xã hội - Vai xã hội được xác định bằng các quan hệ xã hội:
 được xác định bằng quan hệ + Quan hệ trên- dưới, ngang hàng (tuổi tác, thứ bậc 
 nào ? Lượt lời trong hội trong gia đình và xã hội)
 thoại ? Những lưu ý khi + Quan hệ thân - sơ (quen biết, thân tình)
 tham gia hội thoai ? VD ? -Vai xã hội đa dạng, nhiều chiều nên khi tham gia 
 hội thoại cần xác định đúng vai để chọn cách nói 
 cho phù hợp.
 b. Trong hội thoại ai cũng được nói. Mỗi lần nói 
 trong hội thoại là một lượt lời.
 - Khi tham gia hội thoại phải giữ lịch sự, tôn trọng 
 lượt lời của người khác, tránh nói tranh lượt lời, cắt 
 lời, chêm lời ...
 - Nhiều khi im lặng cũng là một cách biểu thị thái 
 độ.
 c. Khi thầy giáo và HS giao tiếp trong giờ học thì vai 
 thứ bậc XH của hội thoại là:
 A. Ngang hàng, thân thiết. B. Trên hàng.
 C. Trên hàng – dưới hàng. D. Dưới hàng.
 d. Phân tích vai xã hội giữa ông giáo và Lão Hạc?
 - Xét về địa vị xã hội: ông giáo là người có địa vị 
 cao hơn 1 nông dân nghèo như lão Hạc 
 Câu 2: Cảm nhận của em về - Xét về tuổi tác: lão Hạc có vị trí cao hơn.
 t/y quê hương trong bài thơ Câu 2:
 QH của TH. - Xa quê nhưng tác giả “luôn tưởng nhớ” quê hương. 
 Lối biểu cảm trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ chân thành, 
 tha thiết của nhà thơ nên lời thơ giản dị, tự nhiên.
 - Nhớ về quê hương tác giả nhớ về: Nhớ màu nước .vôi.Nhớ con quá đặc biệt là về ''cái mùi nồng 
 mặn''. Dù đi xa, đứa con hiếu thảo của quê hương 
HS dựa vào kiến thức được luôn tưởng nhớ ''mùi nồng mặn'' đặc trưng của quê 
tìm hiểu để lập dàn bài đảm hương - Đó là hương vị riêng đầy quyến rũ, mùi 
bảo các ý cơ bản sau riêng của làng biển rất đặc trưng... 
 * Quê hương là nỗi nhớ thường trực trong tâm hồn 
 tác giả, ông luôn nhớ tới những h/a thân thuộc trong 
 cuộc sống của người dân làng chài.
 Câu 3
Câu 3: Trình bày suy nghĩ Trần Quốc Tuấn là một vị tướng văn võ song toàn, 
của em về tác phẩm HTS của người đã có công lớn trong 2 cuộc kháng chiến 
TQT. chống giặc Mông. Tên của ông luôn mãi được khắc 
 sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam cùng với 
HS dựa vào kiến thức được những trang sử vàng của dân tộc. Tác phẩm “Hịch 
tìm hiểu để viết bài đảm bảo tướng sĩ”-áng văn bất hủ được ông viết trước cuộc 
các ý cơ bản trong dàn bài kháng chiến chống Nguyên-Mông lần II (1285) đã 
GV gọi một số HS đọc bài cho ta thấy lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha của vị 
và cùng nhận xét, chữa bài Quốc công tiết chế này, đồng thời cũng vang dậy lời 
hoàn chỉnh hiệu triệu của toàn quân ra trận
 Tấm lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn đã thể hiện 
 cao độ khi ông tố cáo tội ác của quân thù bằng lời lẽ 
 đanh thép. Với bản chất ngang tàn, hống hách, 
 chúng không chỉ coi thường dân ta, mà còn sỉ nhục 
 triều đình từ vua đến quan: “ngó thấy sứ giặc đi lại 
 nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ 
 mắng triều đình, đem thân dê cho mà bắt nạn tể 
 phụ”. Chúng ta càng căm tức bọn giặc hơn nữa khi 
 chứng kiến hành động rất tàn bạo, tham lam, nhằm 
 vơ vét của cải của nhân dân: “thác mệnh hốt tất liệt 
 mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả 
 hiêu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vơ vét 
 của kho có hạn.” Thật là một bọn cầm thú, chẵng 
 khác nào dê, chó hổ đói, cú diều. Vậy mục đích của 
 tác giả khi tố cáo tội ác của quân thù là khích lệ lòng 
 căm thù giặc của tướng sĩ, của toàn dân và khơi gợi 
 nỗi nhục mất nước của 1 dân tộc.
 Trước nạn ngoại xâm, quốc gia dân tộc đang lâm 
 nguy. Trần Quốc Tuấn không khỏi băn khoăn lo 
 lắng, đến độ quên ăn, mất ngủ, xót xa như đứt từng 
 khúc ruột. Nỗi lo lắng đó được ông bày tỏ với binh sĩ: “Ta thường đến bữa quên ăn, nữa đêm vỗ gối; 
ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”. Nỗi niềm ấy 
được chuyển hóa, nâng lên thành niềm uất hận ngàn 
thâu, chứa chan trong lòng khi chưa rửa được nhục 
cho tổ quốc, quyết không đội trời chung với giặc: 
“xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù.” 
Không chỉ căm thù giặc mà trần Quốc Tuấn còn 
nguyện hy sinh thân mình cho sự nghiệp đánh đuổi 
ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc: “dẫu cho 
trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói 
trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” Trần Quốc Tuấn 
quả là một con người yêu nước thương dân, ông 
đúng là tấm gương sáng cho binh sĩ noi theo để mà 
biết hy sinh bản thân vì nước vì dân.
Một vị tướng tài ba, ngoài lòng yêu nước, họ còn 
phải biết yêu thương binh sĩ. Và Trần Quốc Tuấn đã 
hội tụ đủ những yếu tố đó. Ông luôn quan tâm, chia 
sẻ, xem binh sĩ như những người anh em khi xông 
pha trận mạc cũng như khi thái bình: “không có mặc 
thì ta cho cơm, không có ăn thì ta cho cơm, quan 
nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ra cấp bổng, đi 
thủy thì cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa”. Thật là 
cảm động thay cho tình sâu nghĩa nặng của ông đối 
với binh sĩ. Cũng chính nhờ tình cảm đó đã thắp lên 
ngọn lửa yêu nước trong lòng họ.
Yêu thương, lo lắng binh sĩ không đơn thuần chỉ là 
những lời khuyên nhủ nhẹ nhành mà là nghiêm 
khắc, quyết liệt phê phán những việc làm sai trái của 
họ: thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh tổ quốc lâm 
nguy: “thấy nước nhục mà không biết lo, thấy chủ 
nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải 
hầu quân giặc mà không biết tức”. Đó là những hành 
động hưởng lạc, ham vui, quên mất trách nhiệm của 
mình đối với vận mệnh tổ quốc: “lấy việc chọi gà 
làm vui đùa, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc 
vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc 
lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn 
mà quên việc binh, hoặc thích uống rượu, hoặc mê 
ca hát.” Những lời giáo huấn của ông thật ý nghĩa, 
nó đã thức tỉnh biết bao binh lính lầm đường lạc lối trở về con đường đúng đắn, giúp họ nhận thức hơn 
 về độc lập dân tộc. Và hơn hết là chỉ ra những việc 
 cần làm đó là hãy đề cao cảnh giác, đoàn kết với 
 nhau trước nguy cơ bị nước ngoài lăm le bờ cõi, đặc 
 biệt hãy chăm học “Binh thư yếu lược” do chính trần 
 Quốc Tuấn biên soạn cũng là một cách rèn luyện để 
 chiến thắng quân thù
 Toàn bộ văn bản “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc 
 Tuấn đã chứng minh được một điều rằng: ông là một 
 vị tướng kiệt suất tài ba, không những giỏi về quân 
 sự mà còn văn chương xuất chúng, mấy ai sánh 
 được. Ngoài ra ông còn thấm đẫm một niềm thương 
 dân sâu sắc, là tiêu biểu cho ḷng yêu nước lúc bấy 
 giờ. Tác phẩm này của ông xứng đáng là một ánh 
 thiên cổ hùng văn trong nền văn học nước nhà.
 * Củng cố, hướng dẫn về nhà:
 - Học bài, chuẩn bị ôn tập các kiến thức của kì I
- Giờ sau kiểm tra

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_ngu_van_8_tuan_31_tiet_1314_on_tap.doc