Tuần 29 Tiết 20 ÔN TẬP CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN I. MUC TIÊU: 1. Kiến thức: Củng cố lại lí thuyết VB đã học, áp dụng lí thuyết vào thực hành 2. Kĩ năng: Rèn kĩ năng trình bày miệng, viết những kiến thức trọng tâm 3. Thái độ: - GD ý thức hoc tập bộ môn. II .NÔI DUNG : 1. Lý thuyết VĂN BẢN: CHIẾU DỜI ĐÔ a. Tác giả: Lý Công Uẩn (974-1028) – tức Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang – Nay là xã Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh. Thuở nhỏ ông được học chữ, học võ nghệ ở các chùa nổi tiếng vùng Kinh Bắc. Sau đó ông trở thành võ tướng của triều Lê, từng lập được nhiều chiến công, làm đến chức Tả thận vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều uy vọng, được quân sĩ và tầng lớp sư sãi tín phục. Năm 1009, Lê Ngoạ Triều chết, ông được quần thần và nhiều vị Thiền sư ủng hộ, tôn lên làm vua, mở đầu triều đại nhà Lý (1009-1225) b. Tác phẩm: *Chiếu: là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân biết về 1 chủ trương lớn, chính sách lớn của nhà vua và triều đình. Chiếu có ngôn từ trang trọng, tôn nghiêm, được viết bằng thể văn xuôi cổ, thường có đối và có vần (văn biền ngẫu). * Chiếu dời đô (viết bằng chữ Hán – Bản dịch của Nguyễn Đức Vân): Năm 1010, Lý Công Uốn – tức vua Lý Thái Tổ, viết Thiên đô chiếu trong h/c đất nước thái bình thể hiên mong muốn dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình ra thành Đại La rộng lớn, thuận tiện cho việc mở mang và củng cố, bảo vệ đất nước, sau đổi tên là Thăng Long. Chiếu dời đô là 1 văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó đánh dấu sự vươn dậy, ý chí tự cường của dt ta. Nó thể hiện sự lớn mạnh của đất nước ta, nhân dân ta trên con đượng xây dựng 1 chế độ phong kiến tập quyền hùng mạnh để bảo vệ nền độc lập, tự chủ của Đại Việt. Nó mở ra 1 kỉ nguyên mới, kỉ nguyên Thăng Long huy hoàng. Tuy là 1 bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh nhưng Chiếu dời đô lại có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân. Tác giả đã sử dụng 1 hệ thống lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ, khoẻ khắn để thuyết phục dân chúng tin và ủng hộ kế hoạch dời đô của mình. Văn bản: HỊCH TƯỚNG SĨ- TRẦN QUỐC TUẤN a. Tác giả: Trần quốc Tuấn (1231 ? – 1300), là con của An Sinh Vương Trần Liễu, tước Hưng Đạo Vương. Năm 1257, lần đầu tiên quân Mông cổ sang đánh nước ta, ông đã được cử cầm quân trấn giữ biên thuỳ phía Bắc. Hai lần sau, năm 1285 và 1287, quân Mông nguyên lại đem quân sang XL nước ta, ông lại được Trần Nhân Tông cử làm tiết chế thống lĩnh các đạo quân, cả 2 lần đều thắng lợi vẻ vang. TQT yêu người hiền, trọng kẻ sĩ, môn khách của ông có những người nổi tiếng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu Đời Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (Nay là xã Hưng Đạo - Chí Linh – Haỉ Dương) rồi mất ở đó. Nhân dân tôn thờ ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước. b. Tác phẩm: Hịch tướng sĩ là bài văn nghị luận bằng chữ Hán, được viết trước khi xảy ra cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 (1285). TQT viết bài hịch này để thức tỉnh lòng yêu nước và lòng căm thù giặc, đồng thời khích lệ tướng sĩ học tập Binh thư yếu lược, cổ vũ tinh thầnh hăng say luyện tập quân sự, quyết chiến thắng kẻ thù xâm lược. 2. Bài tâp: Câu 1: Trình bày hoàn cảnh sáng tác của bài “Chiếu dời đô” và giới thiệu về thể loại chiếu ? Gợi ý: - Chiếu dời đô để thông báo rộng rãi quyết định dời đô của mình cho toàn thể dân chúng được biết. Đây là tác phẩm duy nhất duy nhất ông để lại cho đời sau. -Thể Chiếu: Chiếu - Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1010 Lý Công Uẩn quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La Sau đổi thành Thăng Long - Hà Nội ngày nay), đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, bắt đầu một thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Nhân dịp này, Lý Công Uẩn đã viết thư, chiếu mệnh, chiếu chỉ, chiếu bản) Là một thể loại văn cổ. - Nội dung: Chiếu thường thể hiện những tơ tưởng lớn lao, có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh, Triều đại, đất nước. - Hình thức: Sử dụng cách viết văn biền ngẩu. + Tác giả: Nhà vua dung để ban bố mệnh lệnh. Câu 2: Vì sao thành Đại La xứng đáng được chọn làm nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời? Gợi ý: Thành Đại La hiện lên qua lời văn miêu tả của Lý Công Uẩn quả thật là một vùng đất linh thiêng , quý báu. Về vị trí địa lý là ở nơi trung tâm của đất trời. Theo quan điểm phong thủy của người xưa Đại La có thế đất sang quý, thịnh vượng ( Thế rồng cuộn, hổ ngồi, đúng ngôi nam bắc đông tây, tiện hướng nhìn song dựa núi) Đây cũng là vùng đất đồng bằng thuận lợi cho cư dân tập trung sinh sống, thông thương thuận lợi, vạn vật phát triển tốt tươi. Mãnh đất này chính là thắng địa, sẽ là nơi trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia muôn đời. Dời đô đến Đại La chính là biểu hiện của một khát vọng, một quyết tâm tự lực, tự cường của Dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. III. Hướng dẫn về nhà: - So Sánh 3 thể loại: Hịch, Chiếu Cáo? - Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của bài hịch trên? IV. RÚT KINH NGHIỆM:
Tài liệu đính kèm: