1 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP VĂN 8 – HỌC KÌ II I. Phần đọc hiểu văn bản (kiến thức trọng tâm từ bài 6 đến bài 10 phần đặc điểm thể loại, tri thức ngữ văn) 1. Bài 6: Chân dung cuộc sống - Cốt truyện đơn tuyến là kiểu cốt truyện chỉ có một mạch sự kiện. Trong cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện thường tương đối đơn giản, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một hoặc một vài nhân vật chính. - Cốt truyện đa tuyến là kiểu cốt truyện tồn tại đồng thời ít nhất hai mạch sự kiện. Trong cốt truyện đa tuyến, hệ thống sự kiện thường phức tạp, chồng chéo, tái hiện nhiều bình luận của đời sống gắn với số phận các nhân vật chính của tác phẩm. 2. Bài 7: Tình yêu và ước vọng - Thơ tự do + Thơ tự do là thể thơ không quy định số tiếng trong mỗi dòng thơ và số dòng trong mỗi khổ thơ. + Thơ tự do có thể có vẫn hoặc không vần. Khi có vần, cách gieo vần trong bài thơ tự do rất linh hoạt: vẫn chân hoặc vẫn lưng, vẫn liền hoặc vẫn cách. Nhịp điệu của thơ tự do được tạo nên bởi cách ngắt các và trong dòng thơ, số tiếng của từng dòng, cách bố trí thanh điệu hoặc vẫn ở các tiếng được nhấn mạnh trong dòng thơ. + Tính chất phóng khoáng về hình thức giúp thơ tự do có thể diễn tả sinh động cảm xúc của nhà thơ trước những biểu hiện mới mẻ, đa dạng, phong phú của cuộc sống. - Mạch cảm xúc + Thơ trữ tình thể hiện cảm xúc của nhà thơ trước một đối tượng nào đó. Vì vậy, cảm xúc là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất của thơ trữ tình. Cảm xúc vận động theo một trình tự và phát triển thành mạch. Mạch cảm xúc có nhiều cung bậc và sắc thái, chi phối các yếu tố nội dung và hình thức của một bài thơ trữ tình. - Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm văn học là tình cảm sâu sắc, mãnh liệt chi phối toàn bộ cách thể hiện đời sống, con người và sự lựa chọn hình thức nghệ thuật trong tác phẩm. 3. Bài 8: Nhà văn và trang viết - Văn bản nghị luận văn học: là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại...). Văn bản nghị luận văn học cần có luận đề, luận điểm rõ ràng; lí lẽ xác đáng, bằng chứng thuyết phục và được tổ chức một cách hợp lí. Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 2 - Luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học: + Luận đề trong văn bản nghị luận văn học là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,...) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản. + Luận điểm trong văn bản nghị luận văn học là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận để, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận. Chẳng hạn, nếu đối tượng được bàn luận là một tác phẩm văn học thì hệ thống luận điểm có thể được triển khai dựa trên các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó. + Lí lẽ trong văn bản nghị luận văn học là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Lí lẽ có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính. + Bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,.... được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan đến tác phẩm, tác giả, thể loại. được dùng để làm sáng tỗ luân điểm. - Người đọc và cách tiếp nhận riêng đối với một văn bản văn học: + Tác giả là chủ thể sáng tạo văn bản văn học, còn người đọc là chủ thể tiếp nhận. Quá trình đọc, tưởng tượng và cảm nhận giá trị nghệ thuật và nội dung của văn bản văn học chính là quá trình tiếp nhận. Việc tiếp nhận không thể tách rời đặc điểm của văn bản (thể loại, đề tài, chủ đề, bố cục, biện pháp nghệ thuật, các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng). Tuy nhiên, hoàn cảnh tiếp nhận tác phẩm, vốn sống, vốn hiểu biết, sự trải nghiệm của mỗi người đọc khác nhau, do đó cách hiểu, cảm nhận về ý nghĩa, giá trị của tác phẩm sẽ có những nét riêng, không hoàn toàn đồng nhất. Mỗi người đọc có thể lựa chọn cách đọc, cảm nhận, hiểu tác phẩm dựa trên vốn sống, kinh nghiệm.... của mình, có khả năng phát hiện ra những giá trị, ý nghĩa mới của văn bản. Do đó, ý nghĩa, giá trị của tác phẩm với mỗi người đọc, mỗi thời đại có thể được sáng tạo mở rộng và trở nên phong phú hơn. 4. Bài 9: Hôm nay và ngày mai - Mục đích của văn bản thông tin, mối quan hệ giữa thông tin khách quan và ý kiến chủ quan + Văn bản thông tin có mục đích chính là cung cấp thông tin xác thực về một sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy, đối với loại văn bản này, tỉnh khách quan của cách đưa thông tin và bản thân thông tin là điều có tầm quan trọng đặc biệt. Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 3 + Muốn đưa thông tin khách quan, người viết cần công phu tra cứu tài liệu, biết tiếp cận thực tế và ghi chép tỉ mỉ, cẩn thận những gì mình thu nhận được với sự hỗ trợ của các phương tiện tác nghiệp chuyên dụng. + Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, bên cạnh việc cung cấp thông tin, tác giả văn bản còn cần thể hiện quan điểm đánh giá của mình về đối tượng được đề cập, xem như là một cách định hưởng giá trị. Tuy vậy, ý kiến chủ quan của tác giả phải được đặt độc lập với phần cung cấp thông tin khách quan, đảm bảo thông tin đưa đến cho người tiếp nhận không bị bóp méo, sai lạc. - Văn bản giải thích một hiện tượng tự nhiên: Đây là loại văn bản phổ biến trên báo chí và các tài liệu khoa học, được thực hiện nhằm làm sáng tỏ bản chất, nguyên nhân xuất hiện và những tác động tích cực hoặc tiêu cực có thể có đối với đời sống con người của một hiện tượng tự nhiên nào đó. Trước khi giải thích hiện tượng bằng những căn cứ và lập luận khoa học, người thực hiện văn bản phải miêu tả được hiện tượng với những biểu hiện điển hình, có thể kèm theo những hình ảnh trực quan, kết quả của việc ghi nhận tại chỗ hoặc khai thác từ những nguồn tài liệu đáng tin cậy. - Văn bản giới thiệu một bộ phim: Loại văn bản này thường hướng tới mục đích quảng bá các sản phẩm điện ảnh hay giúp khán giả có được những hiểu biết thường thức về điện ảnh. Tuỳ vào loại phim được phân chia theo các tiêu chí khác nhau (phim nhựa, phim truyền hình; phim tài liệu, phim truyện; phim hành động, phim dã sử, phim tâm lí xã hội, phim giả tưởng;...) mà người viết xác định điểm nhấn và chọn cách triển khai khác nhau. Tuy nhiên, văn bản giới thiệu nào cũng cần nêu được thông tin về nhà sản xuất, năm phát hành, các thành viên chủ chốt của đoàn làm phim, nội dung phim, những giá trị nổi bật của phim.... Văn bản giới thiệu có sự kết hợp linh hoạt giữa thông tin khách quan và đánh giá chủ quan, giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (thường là ảnh chụp pa-nô quảng cáo hoặc một số cảnh phim đặc sắc), được trình bày hấp dẫn, có sức thu hút đối với người tiếp nhận. 5. Bài 10: Sách – người bạn đồng hành - Đặc điểm của văn bản thông tin giới thiệu một cuốn sách: Văn bản giới thiệu một cuốn sách thuộc loại văn bản thông tin trình bày khách quan những đặc điểm chung của cuốn sách: nhan đề; tác giả; loại, thể loại văn bản; đề tài: chủ đề: bố cục; nội dung chính (tóm tắt). Đồng thời, loại văn bản này cũng nêu cách nhìn (quan điểm, thái độ) của tác giả cuốn sách về đời sống; những giá trị, đóng góp nổi bật hoặc điểm mới, thú vị của cuốn sách. Có thể nêu ngắn gọn quan điểm và đánh giá của người viết nhưng không cần bàn luận sâu, không yêu cầu mở rộng và triển khai các lí lẽ, bằng chứng như văn bản nghị luận. Với những cuốn sách đã phổ biến rộng rãi, có thể giới thiệu thông tin về nhà xuất bản, năm xuất bản. Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 4 - Vai trò của tưởng tượng trong sáng tạo và tiếp nhận văn học: Trong quá trình sáng tạo, tác giả cần quan sát, tìm hiểu đời sống, con người, hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá,... Không có vốn sống, tác giả không thể xây dựng được các hình tượng nghệ thuật sống động. Mỗi tác giả có cách quan sát, cảm nhận và lí giải riêng về đời sống. Đồng thời, nhà văn từ tái hiện hiện thực mà tưởng tượng, hư cấu nền hình tượng văn học. Tưởng tượng giúp tác giả có thể hình dung rõ rệt hơn về con người với những đặc điểm ngoại hình, hành động. nội tâm.... Tưởng tượng khiến tác giả có thể nhập thân vào đời sống để hiểu hơn những điều còn tiềm ẩn, chưa bộc lộ rõ ràng, dự đoán về diễn biến của sự việc, số phận nhân vật. Tưởng tượng là cách để tác giả hồi tưởng và tái hiện những điều đã chìm vào quá khứ, hiểu bản chất của những cảnh tượng chợt xuất hiện và nhìn thấy trước tương lai của những gì đang diễn ra... Tưởng tượng cũng là cách để tác giả kết nối những cuộc đời, những khoảng không gian, thời gian tưởng chừng rất xa nhau trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Hiện thực và tưởng tượng luôn gắn kết với nhau, hoà trộn vào nhau ở từng chi tiết, ở chuỗi sự việc, ở hình tượng nhân vật,... được biểu hiện trong tác phẩm. Do đó, khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc cũng cần huy động trí tưởng tượng để có thể cảm nhận, hình dung cụ thể, sống động về thế giới đời sống: không gian, thời gian, nhân vật, cảm xúc.... đã được tác giả sáng tạo nên. Tưởng tượng giúp cho người đọc đồng cảm với tác giả và hiểu các chi tiết, sự việc, nhân vật,... một cách sâu sắc hơn. - Nhan đề và cách đặt nhan đề văn bản văn học Trong cấu tạo của văn bản, nhan đề là thành phần được đặt ở vị trí đầu tiên để gọi tên, đánh dấu sự bắt đầu của một văn bản và thu hút sự chú ý của người đọc. Nhan đề của văn bản văn học cũng có những đặc điểm chung đó. Tuy nhiên, khác với nhan đề của văn bản nghị luận, văn bản thông tin (thường mang nghĩa tường minh, khái quát), nhan đề của văn bản văn học lại thường mang nghĩa hàm ẩn, gợi hình tượng. Trong một số trường hợp, nhan đề của văn bản văn học cũng có thể gợi ra đặc điểm loại hay thể loại văn bản, đề tài, chủ đề, nhân vật,... II. Phần tiếng Việt 1. Trợ từ và thán từ: 2. Thành phần biệt lập: + Thành phần tình thái + Thành phần cảm thán + Thành phần gọi – đáp + Thành phần phụ chú (Chêm xen) + Thành phần chuyển tiếp Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 5 3. Câu phân loại theo mục đích nói, câu phủ định và câu khẳng định: • Câu phân loại theo mục đích nói: + Câu nghi vấn + Câu cầu khiến + Câu cảm thán + Câu trần thuật • Câu khẳng định và câu phủ định III. Phần Làm văn 1. Viết bài văn phân tích một tác phẩm (truyện) 2. Tập làm một bài thơ tự do 3. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tự do 4. Viết văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên 5. Viết văn bản kiến nghị về một vấn đề của đời sống THỰC HÀNH LÀM ĐỀ: a. Viết bài văn phân tích một tác phẩm (truyện) – Nội dung trọng tâm ôn thi học kì II và ôn thi vào 10. Đề 1. Phân tích 1 truyện ngắn mà em yêu thích Đề 2. Phân tích truyện Những ngôi sao xa xôi Đề 3. Phân tích truyện ngắn “đá trổ bông” - Đề 4. Phân tích truyện ngắn “Làm bạn với bầu trời” b. Tập làm một bài thơ tự do Đề 1. Sáng tác một bài thơ tự do theo chủ đề yêu thích Đề 2. Sáng tác một bài thơ tự do theo chủ đề mùa hè c. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tự do – Nội dung trọng tâm ôn thi vào 10 Đề 1. Viết đoạn văn nêu cảm nhận về bài thơ Đồng chí Đề 2. Viết đoạn văn nêu cảm nhận về bài thơ Bếp lửa Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 6 d. Viết văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên Đề 1. Thuyết minh về hiện tượng tự nhiên mà em thấy hứng thú Đề 2. Thuyết minh về hiện tượng mưa e. Viết văn bản kiến nghị về một vấn đề của đời sống Đề 1. Viết văn bản kiến nghị về việc tổ chức một hoạt động ngoại khóa để nâng cao kĩ năng sống cho học sinh. Đề 2. Viết văn bản kiến nghị về việc tổ chức buổi đi xem phim liên quan đến tác phẩm văn học LUYỆN TẬP DẠNG BÀI VĂN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN ĐỀ 1: Phân tích truyện ngắn “Nhát đinh của bác thợ” NHÁT ĐINH CỦA BÁC THỢ Cứ mỗi dịp trở về thăm ngôi nhà nơi tôi ra đời và lớn lên ở đó, tôi lại bồi hồi ngắm chiếc ghế tựa đã cũ lắm, một bên chân đã phải nối và nhớ tới một chuyện xưa... Trong lúc nô đùa, mấy anh em tôi đã làm bong mặt ghế. Cha tôi phải mời bác thợ vào chữa lại cho khỏi hỏng thêm. Chúng tôi tò mò ngắm bác thợ lụi cụi làm việc. Mỗi khi cúi xuống, ngẩng lên, chiếc kính trắng trên mắt bác lại tụt xuống. Đôi bàn tay có những ngón sần sùi, gân guốc đặt vào đâu, chỗ đó lập tức thay đổi và chiếc ghế dần dần lành lại như mới. Cuối cùng, sau mấy nhát đinh "chát, chát...", chiếc ghế được đặt ngay ngắn, xong xuôi trước mắt chúng tôi. Cha tôi trả tiền và cảm ơn bác thợ. Bác thợ xoa xoa tay trên mặt ghế vừa được thay lại như để từ biệt đứa con của mình rồi chào cả cha tôi, lẫn chúng tôi, ra về. Một lúc sau, trời mưa to. Anh em chúng tôi lại leo lên ghế chơi trò “tàu hỏa" mà quên cả trời mưa. Bỗng có ai gõ cửa. Cha tôi vội bước ra, thì thấy bác thợ đã trở lại, toàn thân ướt đẫm. Nước nhỏ giọt từ trong chiếc hòm đồ nghề của bác. Cha tôi hỏi: - Bác quên gì đấy ạ? Bác thợ đưa tay vuốt mặt, lắc đầu, nói nhanh: - Tôi không quên gì, nhưng Vừa nói, bác vừa bước tới chiếc ghế do tay bác vừa chữa, xoa xoa tay để tìm cái gì. Anh em chúng tôi không hiểu đầu đuôi thế nào nữa, cứ trố mắt ra nhìn. Chợt bác khē reo lên: - Đây rồi! Đoạn, bác mở hòm đồ nghề, lấy cái búa ra, đeo kính vào, nheo nheo mắt và bất thần vung búa gõ đánh "chát" một cái. Xong bác ngẩng lên, cười, nói với cha tôi: - Đi được một quãng xa, tôi chợt nhớ còn cái đinh chưa đóng hết đầu đinh. Để vậy, có người sẽ rách quần áo, bác ạ! Cha tôi cảm động, lấy thêm tiền biếu bác. Bác không nhận và vội vàng chào. Cha con chúng tôi không ai bảo ai, cùng đứng nhìn theo bác thợ vai khoác cái cưa, tay xách hộp Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 7 gỗ cắm cúi đi trong mưa. Bóng bác nhoà dần, nhòa dần trên đường quốc lộ mịt mù gió thốc Từ buổi ấy, trong trí nhớ non thơ của tôi không bao giờ phai mờ hình dáng bác thợ và cứ nghe rõ mãi nhát đinh của người thợ tận tụy với công việc, với nghề của mình. (Phong Thu, Văn học và Tuổi trẻ, số 2.2021) ĐỀ 2: Phân tích truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” “ Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo: - Ở nhà trông các em, tao vào ông Bà xem có xin được ít gạo nào không? Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc còn lại bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra chó cắn. Bác Lê đáp: - Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn! Thôi, tao cứ liều vào lần nữa xem sao. Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng trong buổi sáng lúc vào xin gạo. Ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cái cảnh sang trọng, ấm cúng trong nhà ông Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giàu có thế mà không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao? Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó: - Hình như u về đấy chị ạ. Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngoài. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng. “ ..” Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm chúng nó vào lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt. Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn. Cái nghèo không biết tự bao giờ đã vào nhà bác. Lúc sinh ra bác đã thấy nó rồi, và từ đó nó cứ theo liền bác mãi. Nhưng có người mướn làm thì không đến nỗi. Bác nhớ lại những buổi đi làm khó nhọc, nhưng bác vui vẻ được lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm nóng mùa rét, những lúc thằng Hy và con Tý vui đùa giằng co chiếc bánh bác mua cho chúng. “ ..” - Trời ơi! Sao tôi khổ thế này? Tiếng kêu thất thanh của bác làm lũ trẻ giật mình, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn người mẹ. Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 8 gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.” (Trích truyện ngắn Nhà mẹ Lê - Thạch Lam) ĐỀ 3: Phân tích truyện ngắn “Bí ẩn của làn nước” BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC - Bảo Ninh - Các dòng sông trôi đi như thời gian, và cũng như thời gian, trên mặt nước các triền sông biết bao nhiêu là chuyện đời đã diễn ra. Nhất là về đêm, trên làn nước của dòng sông quê hương tôi lấp lánh hằng hà(1) những đốm sáng bí ẩn, có cả điều bí ẩn của đời tôi. Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mỹ phá tan vệ đê canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dây nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm ầm long lở của dòng sông phá hỏng đê tràn ngang vào đồng ruộng. Từ trên điếm canh,(2) tôi chạy lao về làng. Hồi chiều hay tin vợ ở nhà trở dạ nhưng tôi không thể rời vị trí hộ đê (3). Bây giờ giời đất sập rồi, trong tôi chỉ còn con tôi, vợ tôi. Tôi dốc toàn lực bình sinh vào đôi chân. Đằng sau, cơn đại hồng thủy(4) đuổi bén gót. Nước đã ngập làng. Tôi về, kịp dìu vợ leo lên mái. Mái nhà tranh của vợ chồng tôi bị lôi đi trong đêm đen. Đến khi mái rạ (5) sắp rã tan ra thì ơn trời nó vướng vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp tôi đỡ vợ con trèo lên. Vợ tôi ôm khư khư đứa con mới sinh, nhất định không để tôi bế đỡ. - Con trai... con trai mà..., con trai... Để yên em ẵm, anh vụng... Nhiều giờ trôi qua. Mưa tuôn, gió thổi. Mực nước không dâng cao hơn, nhưng chảy xiết hơn. Cây đa đầy người hơn. Tôi mỏi nhừ. Tay ôm chặt vợ, tay níu mình vào chạc cây(6). Vợ tôi yếu lả, ướt lướt thướt, lạnh ngắt. Khoảng gần sáng, bỗng có tiếng quẫy nước ngay dưới cành đa của vợ chồng tôi. Một giọng nghẹn sặc với lên: - Cứu mẹ con tôi mấy... cứu mấy... người ơi... Một bàn tay nhớt và lạnh như tay ma rờ (7) vào chân tôi đang buông thõng. Tôi vội cúi xuống, đưa tay ra. Nhưng bàn tay của người đàn bà dưới nước truội đi, chìm nghỉm. Cành đa kêu rắc, chao mạnh. Vợ tôi ối kêu một tiếng thảng thốt, và "ùm", con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni lông trên tay mẹ nó, sa xuống làn nước tối tăm. - Con tôi ...! - Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống nước hòng chụp lấy con. Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi ... Tôi tỉnh lại, thấy trời sáng rồi và đã tạnh mưa. Tôi nằm trong khoang một ca nô cứu nạn đầy ắp người. Hồi đêm, tôi đã vật lộn điên dại quyết sống mái một phen với làn nước Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 9 giết người, nhưng tôi đã thua cuộc. Ứa ra cả máu tai máu mũi mà không những không cứu nổi vợ, đến thi thể cô ấy cũng bất lực không tìm thấy. Khi ca nô quân đội tới, mọi người đã phải dùng sức để buộc tôi rời mặt nước. Kiệt sức, tôi ngất đi. Khổ đau, tôi tỉnh dậy, nước mắt nóng rực, tê nhói. Một chị phụ nữ chen tới bên tôi, lên lời an ủi: - Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con. Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này. Ngoan chưa này...Ôi chao, nó tè dầm rồi này. Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng. - Con tôi ... - Tôi òa khóc, đỡ lấy bọc chăn. - Con tôi! Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi nó cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết. Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con trai tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất thảy đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi vì ấy là một niềm đau không thể nói nên lời. (Những Truyện Ngắn Bảo Ninh, NXB Trẻ, 2013, tr11-12) Chú thích: Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952, tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê ông ở Xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. Bảo Ninh được biết tới với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và thời hậu chiến. Ông là nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại giai đoạn từ sau 1975 tới nay. (1) : Nhiều không đếm xuể (2) : Nhà nhỏ làm nơi trông giữ đê điều, hoa màu. (3) : Bảo vệ đê để phòng lũ lụt (4) : Trận lụt lớn. (5) : Mái nhà lợp bằng phần thân còn lại của cây lúa sau khi gặt. (6) : Chỗ cành cây rẽ thành nhiều nhánh. (7) : Sờ. Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 10 UBND THÀNH PHỐ BẮC ĐỀ KIỂM TRA RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI LẦN GIANG II PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO NĂM HỌC 2024 - 2025 TẠO MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 8 Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề (Đề có 02 trang) I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6.0 điểm) Đọc truyện ngắn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: BUỔI SÁNG (Lược một đoạn: Tuấn đang ăn khoai và xem đàn ong làm tổ thì Tí Hoa qua chơi. Thấy Tí Hoa thèm mẩu khoai, Tuấn liền ăn vội. Nhưng sau đó biết bạn đói, Tuấn đã rất ân hận nên đã quyết định lấy tiền mẹ cho mua tập để mua bánh mì thịt cho bạn). Tí Hoa trố mắt: - Tiền mua tập sao anh lại đem ra mua bánh mì? Thế anh lấy tập ở đâu mà đi học? Câu hỏi của Tí Hoa khiến Tuấn đâm lúng túng. Chẳng lẽ nó nói thật sở dĩ nó lấy tiền mua tập đi mua bánh mì là do không nỡ nhìn Tí Hoa nhăn nhó vì đói? Hơn nữa nó cũng không thể khai ra vừa nghe nhắc tới bánh mì thịt, bụng nó cũng đột nhiên đâm cồn cào dữ dội! Ngắc ngứ một hồi, Tuấn gãi gãi đầu, giọng khỏa lấp: - Ối giời! Không có tập mới thì kiếm những trang thừa trong đống tập cũ đóng lại chứ lo gì! Nhà tao tập cũ cả khối! Nghe vậy, Tí Hoa mới yên tâm đưa khúc bánh mì lên miệng. Nhịn đói từ sáng đến giờ, Tí Hoa ăn ngấu ăn nghiến. Nhoáng một cái, trong khi Tuấn mới cắn được một, hai miếng, khúc bánh mì trên tay Tí Hoa đã biến mất như có phép lạ. Vậy mà dường như nó vẫn còn thấy đói. Nó nhìn khúc bánh mì trên tay Tuấn, cắn môi hỏi: - Sao anh ăn chậm rì vậy? Đọc thấy vẻ thòm thèm trong mắt bạn, Tuấn chìa khúc bánh mì ra: - Tao chả thấy ngon lành gì cả! Mày ăn giùm tao đi! Tí Hoa mừng lắm. Nhưng nó vẫn không đưa tay ra, mà tròn mắt: - Sao khi nãy anh bảo anh thích bánh mì thịt? - Tao nói lộn! - Tuấn ngó lên trời - Tao thích bánh mì cá cơ! Còn bánh mì thịt là tao... ghét nhất trên đời! - Ngộ quá hen! Cái gì anh ghét thì em thích! - Tí Hoa hồn nhiên nhận xét, và nó hớn hở thò tay cầm lấy khúc bánh mì Tuấn đưa - Vậy mà em tưởng anh cũng thích giống như em chứ! Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 11 Tuấn không nói gì. Nó kín đáo nuốt nước bọt đánh ực và cố không nghĩ gì đến chuyện “bánh mì thịt bánh mì cá” bằng cách đưa mắt nhìn về phía cây ổi xem bọn ong đã làm tổ đến đâu. Nhưng cảnh ong làm tổ không hiểu sao bây giờ chẳng còn hấp dẫn Tuấn nữa. Nó cứ bị “ám ảnh” mãi về chuyện... bánh mì. Cuối cùng, không nhịn được, nó liền quay mặt sang phía Tí Hoa. Lúc này khúc bánh mì trên tay Tí Hoa chỉ còn một mẩu bé tẹo. Thấy Tuấn nhìn chằm chằm mẩu bánh trên tay mình, Tí Hoa liền chìa ra: - Anh ăn thử một miếng xem! Bánh mì thịt ngon thí mồ mà anh chê! - Ừ, để tao ăn thử xem nào! Vừa nói Tuấn vừa hí hửng cầm lấy mẩu bánh thừa bỏ tọt vào miệng. Nó nhai chóp chép, nuốt ực một cái, rồi gật gù: - Ừ, ngon ghê! Nói xong, Tuấn cười toe. Tí Hoa cũng cười, và nói, giọng đắc thắng: - Thấy chưa! Em đã bảo bánh mì thịt ngon tuyệt mà anh không tin! (Trích Út Quyên và tôi, Nguyễn Nhật Ánh, NXB Trẻ, 2022, tr 92-97) * Ghi chú: Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại Quảng Nam. Ông được coi là một trong những nhà văn thành công nhất viết sách cho tuổi thơ, tuổi mới lớn với hơn 100 tác phẩm ở các thể loại. Truyện của ông cuốn hút độc giả với lối kể chuyện hóm hỉnh, giọng văn giản dị và trong trẻo. Một số tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn như: Mắt biếc, Còn chút gì để nhớ, Hạ đỏ, Câu 1: Truyện Buổi sáng có cốt truyện đơn tuyến hay đa tuyến? Câu 2: Xác định thời gian và không gian nghệ thuật diễn ra câu chuyện. Câu 3: Vì sao Tuấn quyết định lấy tiền mua tập để mua bánh mì cho Tí Hoa? Câu 4: Nhận xét về nhân vật Tuấn qua những câu văn sau: Tí Hoa trố mắt: - Tiền mua tập sao anh lại đem ra mua bánh mì? Thế anh lấy tập ở đâu mà đi học? Câu hỏi của Tí Hoa khiến Tuấn đâm lúng túng. Chẳng lẽ nó nói thật sở dĩ nó lấy tiền mua tập đi mua bánh mì là do không nỡ nhìn Tí Hoa nhăn nhó vì đói? Câu 5: Chỉ ra và nêu tác dụng của từ tượng thanh trong câu sau: Vừa nói Tuấn vừa hí hửng cầm lấy mẩu bánh thừa bỏ tọt vào miệng. Nó nhai chóp chép, nuốt ực một cái, rồi gật gù: Câu 6: Nêu chủ đề của truyện ngắn trên. Câu 7: Qua câu chuyện, theo em cần làm gì để có một tình bạn đẹp, bền vững? II. VIẾT (4.0 điểm ) Viết bài văn phân tích truyện ngắn Buổi sáng trích ở phần I. Đọc hiểu . -----------------HẾT------------------- Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm 12 Đề cương Ngữ văn 8 học kì II GV Nguyễn Thị Thắm
Tài liệu đính kèm: