SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VIỆT NAM TỪ KÊNH HÌNH MÔN ĐỊA LÝ 8 1. Đặt vấn đề: 1.1. Lý do thực hiện đề tài: Địa lý là một môn khoa học không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự việc và hiện tượng địa lý xảy ra trên bề mặt Trái Đất mà còn tìm cách giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố địa lý, cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau. Để phù hợp với đặc trưng bộ môn, đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, việc dạy học môn Địa lý ở các trường phổ thông muốn đạt được chất lượng cao thì đi đôi giữa lý thuyết với thực hành thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là kênh hình, một yếu tố bắt buộc và có tác dụng lớn để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập, tăng cường kỹ năng Địa lý. Qua đó học sinh sẽ tự mình phát hiện kiến thức và khắc sâu nội dung bài học. Không những vậy, kênh hình còn giúp giáo viên tổ chức việc dạy học theo đặc trưng bộ môn có hiệu quả. Để giúp học sinh nắm và hiểu bài, người giáo viên phải biết sử dụng, khai thác và hiểu rõ kênh hình muốn truyền đạt nội dung gì. Đây là một trong những yếu tố gây hứng thú, lôi cuốn học sinh, giúp các em hiểu bài dễ dàng, ghi nhớ lôgic, không máy móc, các em có thể tự phân tích, giải thích khi không có giáo viên bên cạnh và trong thực tế. Rèn luyện kĩ năng cho học sinh biết sử dụng kênh hình trong học tập sẽ giúp các em dễ hiểu bài, không tạo áp lực và sẽ tạo cho các em lòng yêu thích bộ môn để các em đạt được hiệu quả học tập cao đối với môn Địa lý. 1.2. Phạm vi đề tài: Đối với vấn đề sử dụng và khai thác hiệu quả kênh hình chúng ta có thể tiến hành được ở tất cả các bài, đặc biệt là nội dung về Địa lý tự nhiên Việt Nam, mang tính phổ biến rộng, vì môn Địa lý bắt đầu bằng hình ảnh và kết thức cũng bằng hình ảnh. Những kinh nghiệm đó được tổng kết từ thực tiễn giảng dạy của bản thân trong những năm qua. 2. Nội dung đề tài: 2.1. Thực trạng: Trong dạy học Địa lý, kênh hình có chức năng vừa là phương tiện trực quan, vừa là nguồn tri thức địa lý quan trọng đối với học sinh. Trong sách giáo khoa, kênh hình chiếm một tỷ lệ lớn và chiếm một nội dung quan trọng. Kênh hình bao gồm các bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ Ngoài việc hỗ trợ kênh chữ, việc khai thác có hiệu quả kênh hình trong sách giáo khoa sẽ giúp cho học sinh nhận thức được các sự vật, hiện tượng địa lý và các mối quan hệ của chúng theo thời gian và không gian. Chính vì vậy việc sử dụng, khai thác kênh hình trong dạy 1 học môn Địa lý có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành kiến thức và kỹ năng địa lý cho học sinh. Tuy nhiên việc sử dụng kênh hình đối với các em học sinh còn nhiều hạn chế, các em cảm thấy khó khăn khi khai thác nội dung kiến thức bằng kênh hình, chưa biết tìm mối liên hệ giữa các yếu tố địa lý trên bản đồ, lược đồ, bảng số liệu thống kê,... Qua thực tế giảng dạy, trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy nhiều em học sinh còn quan niệm môn Địa lý là môn học thuộc lòng. Chính vì vậy trong những năm qua khi tiến hành đổi mới giáo dục chúng ta đã cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, bằng cách phải chú ý rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng kênh hình. Bên cạnh đó sự phong phú, đa dạng của kênh hình cũng gây sự lúng túng cho không ít giáo viên. Một phần là do sự chủ quan của giáo viên, một bộ phận giáo viên do hạn chế về trình độ chuyên môn (có thể do dạy chéo môn) ngại tiếp xúc với kênh hình dễ làm cho các em có cảm giác nhàm chán, thiếu liên hệ thực tế vì giáo viên chỉ truyền thụ một chiều, chưa phát huy hết tính tích cực ở học sinh. Mặt khác, kiến thức Địa lý tự nhiên Việt Nam trong chương trình Địa lý lớp 8 là nền tảng cho nhiều nội dung sau này ở các cấp học tiếp theo. Các em có nắm được nội dung, khắc sâu được kiến thức mới có thể liên hệ, so sánh và tìm ra mối quan hệ một cách dễ dàng (mối liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, giữa tự nhiên với dân cư, giữa tự nhiên với sự phát triển kinh tế,...). Qua đó, chúng ta lại khẳng định được việc sử dụng kênh hình hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức là rất cần thiết, giúp học sinh hứng thú hơn, giảm nhẹ việc nhớ bài một cách máy móc. Trước thực trạng đó, tôi xin đưa ra một số phương pháp “RÈN KỸ NĂNG KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VIỆT NAM TỪ KÊNH HÌNH MÔN ĐỊA LÝ 8” nhằm tạo thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học, nâng cao dần chất lượng bộ môn. 2.2. Các giải pháp: 2.2.1. Một số nguyên tắc khi sử dụng và khai thác kênh hình: Các tranh ảnh, bảng thống kê, lược đồ và biểu đồ là những kênh hình quan trọng trong SGK Địa lý 8, vừa là nguồn cung cấp kiến thức, vừa là phương tiện minh hoạ cho bài học. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có vai trò định hướng, gợi ý cho học sinh khai thác kiến thức, giúp các em tự khám phá, tìm tòi những kiến thức mới hoặc củng cố lại những kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng Địa lý. Việc sử dụng các kênh hình đòi hỏi phải đúng lúc, đúng chỗ. Và cũng tránh sử dụng quá lâu, quá nhiều lần một loại kênh hình trong một tiết học gây tâm lí nặng nề, căng thẳng cho học sinh. Để có thể sử dụng tốt kênh hình giáo viên cần lưu ý: - Có kế hoạch chuẩn bị trước: tìm hiểu nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tình trạng khi lên lớp mới cùng học sinh tiếp xúc với kênh hình, 2 gây tâm trạng lúng túng, không hiệu quả, thậm chí khai thác sai kiến thức bài học. - Cần lựa chọn nội dung mang tính thiết thực đối với nội dung bài học, đồng thời sử dụng tối đa các nội dung đã được thể hiện trên mỗi kênh hình. - Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, giáo viên cần phải xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập rõ ràng, chi tiết để gợi mở, định hướng học sinh làm việc với các loại kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng Địa lý. - Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với từng loại phương tiện, thiết bị dạy học để tìm kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy. 2.2.2. Một số kinh nghiệm trong rèn kĩ năng khai thác kiến thức Địa lý tự nhiên Việt Nam từ kênh hình môn Địa lý 8: Để giúp học sinh biết đọc, phân tích, nhận xét và rút ra được kiến thức từ các kênh hình (SGK) giáo viên cần lưu ý: - Nêu rõ nhiệm vụ cụ thể cho học sinh tìm hiểu đặc điểm gì, bao gồm các yếu tố nào, các vấn đề liên quan, chi phối tới đặc điểm đó như thế nào - Chỉ rõ cho học sinh biết dựa vào kênh hình kết hợp với kiến thức đã học để tìm ra đơn vị kiến thức mới - Đưa ra đáp án, kết luận những kiến thức cơ bản của từng kênh hình a. Các tranh ảnh Địa lý: Các tranh ảnh trong SGK Địa lý 8 phần “Địa lý tự nhiên Việt Nam” chủ yếu là các ảnh minh hoạ cho kiến thức, có vai trò cung cấp cho học sinh những kiến thức về vị trí các điểm cực, môi trường biển, đỉnh núi cao nhất Việt Nam, cảnh quan đồng bằng, cảng tuyết phủ ở vùng núi cao, đập thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà, sự đa dạng của các loài sinh vật... Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích và nhận xét tranh ảnh Địa lý. Giáo viên yêu cầu học sinh: - Đọc tên bức tranh hoặc ảnh, nội dung của bức tranh ? - Đối tượng địa lý nào được biểu hiện? - Hướng dẫn học sinh dựa vào kiến thức Địa lý đã học kết hợp với lược đồ giải thích, chứng minh các đặc điểm của các đối tượng địa lý. Ví dụ 1: Hình 29.1. Đỉnh núi Phan-xi-păng trên dãy Hoàng Liên Sơn của bài 29: “Đặc điểm các khu vực địa hình”, giáo viên cho học sinh quan sát và giải thích tại sao Phan-xi-păng được coi là nóc nhà Việt Nam? Dựa vào nội dung của bài học kết hợp với việc quan sát hình, học sinh có thể giải thích: diện tích lãnh thổ nước ta có ¾ là đồi núi, trong đó đỉnh núi Phan-xi-păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao cao nhất Việt Nam (3143m) 3 Hình 29.1.Đỉnh núi Phan-xi-păng cao 3143m Ví dụ 2: Hình 31.1.Tuyết phủ ở Sa Pa (Lào Cai) của bài 31: Đặc điểm khí hậu Việt Nam, giáo viên cho học sinh quan sát, qua đó các em có thể rút ra nhận xét: thời tiết ở núi cao thường khắc nghiệt và biến đổi nhanh chóng, có sương mù và lúc chìm trong mưa tuyết, từ đó liên hệ thực tế ở địa phương (Bạc Liêu), thời tiết luôn nóng, chỉ có hai mùa mưa và nắng trong năm. Các em sẽ kết luận được khí hậu nước ta mang tính đa dạng, ngoài chịu ảnh hưởng của không gian (vĩ độ) khí hậu nước ta còn phụ thuộc vào sự phân hóa địa hình. Hình 31.1.Tuyết phủ ở Sa Pa (Lào Cai) b. Các lược đồ: Lược đồ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong dạy học Địa lý. Do đặc điểm của đối tượng, sự vật Địa lý được trải rộng trong không gian, giáo viên không 4 thể hướng dẫn học sinh đến từng nơi được. Vì vậy, dạy học Địa lí không thể không có lược đồ. Trong mỗi lược đồ Địa lý đều chứa đựng những kiến thức thông qua các kí hiệu. Trước khi khai thác kiến thức từ lược đồ, giáo viên hướng dẫn học sinh nêu rõ nội dung của lược đồ là gì và đọc bảng chú giải để biết cách thể hiện nội dung của lược đồ. Ví dụ 3: Hình 24.1. Lược đồ khu vực Biển Đông của bài 24: Vùng biển Việt Nam. Hình 24.1.Lược đồ khu vực Biển Đông * Về nội dung, khi khai thác lược đồ GV cần định hướng cho HS đảm bảo các nội dung sau: Hình 24.1 thể hiện vị trí, khu vực Biển Đông, một biển phụ của Thái Bình Dương. Tuy là biển phụ nhưng rộng 3.447 triệu km2, đứng thứ ba về diện tích so với các biển khác trên thế giới. - Biển Đông là một biển nóng, nằm gần như hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới và là biển tương đối kín vì có nhiều đảo, quần đảo rộng lớn bao quanh. Bản thân các đảo và quần đảo này tạo ra hàng loạt các eo biển nối Biển Đông với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, các vịnh biển + Các eo biển: Đài Loan, Quỳnh Châu, Ba-si, Min-đô-rô, Ba-la-bắc, Ma- lắc-ca, Gas-pa, Ca-li-man-ta. + Hai vịnh lớn nhất là: vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan. - Phần Biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km 2, có hải giới với các quốc gia: Trung Quốc, Phi-lip-pin, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, In-đô- nê-xi-a, Thái Lan, Cam-pu-chia. * Về phương pháp sử dụng: 5 Hình 24.1 được sử dụng khi dạy học mục 1 – Đặc điểm chung của vùng biển Việt Nam. GV có thể phóng to hình ra khổ giấy lớn hơn hoặc sử dụng hình in sẵn nếu có. Biển Đông là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ toàn vẹn nước ta. Với hình ảnh này, GV có thể hướng dẫn HS tìm hiểu bằng cách trả lời những câu hỏi mở: Quan sát hình ảnh kết hợp với đọc nội dung SGK, hãy cho biết vùng biển Việt Nam nằm trong biển Đông có diện tích bao nhiêu km2? Tiếp giáp vùng biển của những quốc gia nào? Sau khi HS trả lời, GV thể nhấn mạnh vai trò của biển trong chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta. Ví dụ 4: Hình 33.1. Lược đồ các hệ thống sông lớn ở Việt Nam của bài 33: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam Hình 33.1.Lược đồ các hệ thống sông lớn ở Việt Nam * Về nội dung, khi khai thác lược đồ GV cần định hướng cho HS đảm bảo các nội dung sau: - Nước ta có rất nhiều sông suối, phân bố rộng khắp trên toàn lãnh thổ song phần lớn là các sông nhỏ, ngắn và dốc (HS giải thích được phần lớn các sông nhỏ, ngắn và dốc vì lãnh thổ nước ta ¾ diện tích là đồi núi và bề ngang hẹp..) 6 - Sông ngòi nước ta chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc- Đông Nam (hệ thống sông Hồng, sông Mã ) và vòng cung (các sông thuộc hệ thống sông Thái Bình, sông Đồng Nai, ). * Về phương pháp sử dụng: Hình 33.1 được sử dụng khi dạy học mục 1 – Đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam. GV có thể phóng to hình ra khổ giấy lớn hơn hoặc sử dụng hình in sẵn nếu có. Trước hết, GV khái quát cho HS thấy những đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam, hướng dẫn HS xác định những lưu vực sông lớn ở Việt Nam. Tiếp đó, GV yêu cầu HS kết hợp kênh chữ trong SGK, hình minh hoạ và trả lời câu hỏi nêu trong bài. Sau khi HS trả lời, GV nhấn mạnh lại sự phân bố rộng khắp, dày đặc của sông ngòi Việt Nam và ý nghĩa của hai hệ thống sông lớn: sông Hồng và sông Cửu Long. c. Các sơ đồ: Các sơ đồ trong SGK Địa lý 8 có nội dung phù hợp với nội dung bài, bố cục hợp lí, cân đối và nổi bật trọng tâm. Qua sơ đồ học sinh thấy được mối liên hệ của nội dung cần thể hiện. Thông qua phân tích các sơ đồ rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc, phân tích sơ đồ và lập sơ đồ dựa vào nội dung của bài học. Các sơ đồ được sử dụng trong nhiều khâu khác nhau của bài học Địa líýnhư kiểm tra kiến thức cũ đầu tiết học, định hướng nhận thức của học sinh lúc mở đầu bài học, giảng bài mới, củng cố bài học, ra bài tập về nhà cho học sinh... Ví dụ 5: Hình 24.5. Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam, Hình 24.6. Sơ đồ mặt cắt khái quát các vùng biển Việt Nam của bài 24: Vùng biển Việt Nam. * Về nội dung, khi khai thác sơ đồ GV cần định hướng cho HS đảm bảo các nội dung sau: Hình 24.5 và 24.6 thể hiện cách tính và các bộ phận hợp thành vùng biển Việt Nam: vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. - Nội thuỷ: là phần tiếp giáp với đất liền, ở phía trong đường cơ sở. - Lãnh hải: là vùng thuộc chủ quyền quốc gia trên biển có chiều rộng 12 hải lí. - Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh, kiểm soát thuế quan.. - Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng Nhà Nước có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng các nước khác vẫn được tự do về hàng hải và hàng không. - Thềm lục địa: là phần ngầm dưới biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần lục địa kéo dài, mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m. * Phương pháp sử dụng: Hình 24.5 và 24.6 được sử dụng khi dạy học bài đọc thêm – Vùng biển chủ quyền của nước Việt Nam. GV có thể phóng to hình ra khổ giấy lớn hơn hoặc sử dụng hình in sẵn nếu có. Trước tiên, GV hướng dẫn HS nhận biết đường cơ sở, ở nước ta đường cơ sở nối liền những hòn đảo nào. Tiếp đó, kết hợp với mặt cắt các vùng biển, GV 7 yêu cầu HS quan sát sơ đồ và trình bày giới hạn các khu vực bộ phận biển Việt Nam. Sau khi HS trả lời, GV tổng kết lại các khu vực bộ phận biển Việt Nam và ý nghĩa của chúng. Hình 24.5. Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam Hình 24.6.Sơ đồ mặt cắt khái quát các vùng biển Việt Nam d. Các bảng số liệu thống kê: Bảng số liệu thống kê là phương tiện dùng làm cơ sở để rút ra các nhận xét hoặc có thể dùng để cụ thể hóa, minh họa làm rõ kiến thức Địa lý. Bằng việc 8 phân tích các số liệu, học sinh có thể thu nhận các kiến thức Địa lí cần thiết hoặc nhờ việc xem xét các mối liên quan của các số liệu tương ứng, học sinh sẽ nắm chắc, rõ ràng hơn các tri thức cần thiết. Các bảng số liệu thống kê trong SGK Địa lý 8 phần Địa lý tự nhiên Việt Nam cung cấp cho học sinh những kiến thức về cơ cấu, tình hình phát triển của một số ngành kinh tế, sự phân bố nhiệt độ và lượng mưa, xu hướng biến động của diện tích rừng Qua đó rèn luyện cho học sinh các kĩ năng phân tích bảng thống kê, vẽ biểu đồ. Ví dụ 6: Bảng số liệu 31.1. Nhiệt độ, lượng mưa các trạm khí tượng Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh của bài 31: Đặc điểm khí hậu Việt Nam. Khi GV yêu cầu HS quan sát bảng số liệu để rút ra nhận xét, GV có thể đưa ra câu hỏi gợi ý như sau: Căn cứ vào bảng số liệu qua bảng 31.1 SGK số liệu khí hậu ba trạm Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam, hãy cho biết: - Nhiệt độ tháng thấp nhất của ba trạm? - Lượng mưa trung bình tháng ít nhất của ba trạm? - Nhận xét về khí hậu nước ta vào mùa đông và mùa hạ, . Sau khi được GV gợi ý, quan sát bảng số liệu HS có thể rút ra kết luận về đặc điểm chung khí hậu của khí hậu nước ta: Mùa đông: lạnh, mưa phùn ở miền Bắc; khô, nóng kéo dài ở miền Nam. Mùa hạ: nóng, ẩm, có mưa to, dông, bão diễn ra phổ biến trên cả nước. Bảng 31.1. Nhiệt độ, lượng mưa các trạm khí tượng Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh 9 Ví dụ 7: Bảng số liệu về xu hướng biến động của diện tích rừng Việt Nam của bài 38: Bảo vệ tài nguyên sinh vật Việt Nam. Đối với bảng số liệu này khi GV đưa ra yêu cầu HS quan sát GV cần kết hợp rèn kĩ năng xử lí số liệu, vẽ biểu đồ, nhận xét, Chẳng hạn như yêu cầu: Căn cứ vào bảng số liệu về xu hướng biến động của diện tích rừng Việt Nam: Năm 1943 1993 2001 Diện tích rừng (triệu ha) 14,3 8,6 11,8 (a). Tính tỉ lệ % che phủ của rừng so với diện tích đất liền (làm tròn 33 triệu ha) (b). Vẽ biểu đồ theo tỉ lệ che phủ của rừng. (c). Nhận xét về xu hướng biến động của diện tích rừng Việt Nam. GV hướng dẫn HS giải quyết từng phần: (a). Tính tỉ lệ (%) = (diện tích rừng : diện tích đất liền) x 100 (làm tròn số) Năm 1943 1993 2001 Diện tích đất tự nhiên (triệu ha) 33 33 33 Diện tích rừng (triệu ha) 14,3 8,6 11,8 Tỉ lệ che phủ rừng (%) 43,33 26,06 35,75 (b). Vẽ biểu đồ cơ cấu: vẽ từ tia 12 giờ, theo chiều kim đồng hồ. Vẽ các hình quạt với tỉ trọng của từng thành phần trong cơ cấu. Ghi trị số phần trăm vào các hình quạt tương ứng. Vẽ đến đâu, kí hiệu đến đó. Đồng thời ghi tên biểu đồ và lập bảng chú giải. (c). GV hướng dẫn HS nhận xét xu hướng biến động của diện tích rừng của diện tích rừng nước ta ngày càng bị cạn kiệt qua các năm do nhiều nguyên nhân (HS nêu và liên hệ địa phương). 2.3. Kết quả: Qua quá trình thực hiện trên tinh thần tìm tòi, học hỏi, trao đổi với đồng nghiệp và đặc biệt là sau áp dụng biện pháp trên vào trong từng tiết dạy trong nhiều năm thực hiện theo tinh thần đổi mới phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tôi nhận thấy đã đạt được kết quả khả quan: + Tạo sự hứng thú, tích cực cho học sinh trong tiết học. + Giảm tỉ lệ học sinh yếu kém, chất lượng bộ môn luôn được chỉ tiêu quy định. + Giảm bớt thời gian thuyết trình của giáo viên trong tiết dạy. Tôi xin lấy kết quả của năm học gần đây nhất (năm học 2016- 2017) làm minh chứng để thể hiện sự tích cực khi tôi tiến hành tăng cường rèn kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình cho các em trong môn Địa lý 8 (phần Địa lý tự nhiên Việt Nam): 10 Kết quả học kì I năm học 2016- 2017: Lớp Môn Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 82 Địa 41 41 100 0 0 0 0 0 0 86 Địa 40 8 20,0 20 50,0 10 25,0 2 5,0 88 Địa 44 37 84,09 6 13,64 1 2,27 0 0 Cộng chung 125 86 68,80 26 20,80 11 8,80 2 1,60 Kết quả cuối năm học 2016- 2017: Lớp Môn Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 82 Địa 41 41 100 0 0 0 0 0 0 86 Địa 38 15 39,47 13 34,21 10 26,32 0 0 88 Địa 44 42 95,45 2 4,55 0 0 0 0 Cộng chung 123 98 79,67 15 12,20 10 8,13 0 0 Không những thế tôi còn sử dụng phương pháp này trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tư vấn, hỗ trợ đồng nghiệp cùng chuyên môn. Kết quả đạt giải học sinh giỏi lớp 8 trong những năm gần đây càng được đầu tư đẩy mạnh về cả số lượng và chất lượng: năm học 2015 - 2016: có 2 giải khuyến khích cấp thành phố; năm học 2016 - 2017 có 6 học sinh đạt giải (trong đó: 1 giải nhì, 2 giải ba, 3 giải khuyến khích). 3. Kết luận: Phương pháp mới có sử dụng đồ dùng trực quan (kênh hình): bài giảng trở nên sinh động bởi các em có cơ hội trình bày các ý tưởng của mình qua các tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ,... Các em có nhiều cơ hội hợp tác hơn để giải quyết các yêu cầu giáo viên đưa ra nhằm khai thác có hiệu quả kênh hình, từ đó hình thành các khái niệm và tri thức mới. Đặc biệt sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tích cực ở các em, huy động được mọi đối tượng của lớp học cùng tham gia Khi học sinh sử dụng kênh hình để khai thác kiến thức phần Địa lý Việt Nam dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ cảm thấy không bị áp lực, căng thẳng vì cùng một lúc phải ghi nhớ (học thuộc lòng) một lượng kiến thức khổng lồ. Các em đã có kênh hình là bạn đồng hành trên bước đường khám phá nguồn tri thức mới, từ đó bồi dưỡng cho các em thêm lòng yêu quê hương, đất nước và vận dụng các nội dung học được vào thực tế cuộc sống, góp phần xầy dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn trong tương lai. Tuy nhiên, trong mỗi bài học, giáo viên không nhất thiết phải sử dụng hết các kênh hình mà phải căn cứ vào nội dung của bài học để lựa chọn cho phù hợp, không để cho các em có cảm giác "choáng ngợp" vì quá nhiều kênh hình để 11 giải quyết và phải đảm bảo nội dung, thời gian trên lớp. Khi sử dụng và khai thác các kênh hình cũng cần phải có sự vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt. Điều đó đòi hỏi mỗi thầy cô giáo cũng phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã áp dụng và đúc kết được trong quá trình dạy học. Tuy nhiên sáng kiến này sẽ có những thiếu sót nhất định. Rất mong đón nhận được sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để sáng kiến này được hoàn thiện hơn. Bạc Liêu, ngày 29 tháng 5 năm 2017 Người thực hiện Đinh Thị Hồng Nhiều 12 13
Tài liệu đính kèm: