Tuần 28 Luyện đề “ Chiếu dời đô”, “ Hịch tướng sĩ” TiÕt 37, 38 Phần 1: Luyện đề “ Chiếu dời đô” A- Kiến thức cơ bản. 1. Tác giả và hoàn cảnh ra đời của Chiếu dời đô. Lí Công Uẩn ( 974 – 1028), tức vua Lí Thái Tổ là người sáng lập triều Lí trong lịch sử Việt Nam, quê ở Châu Cổ Pháp ( nay là xã Đình Bảng, Tỉnh Bắc Ninh). Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công. Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Sau khi vua Lê Ngoại Triều qua đời, triều thần tôn Lí Công Uẩn lên ngôi lấy hiêụ là Thuận Thiên. Tháng 7 năm 1010, Lí Công Uẩn viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư ( nay thuộc tỉnh Ninh Bình) ra thành Đại La ( nay là Hà Nội). Việc dời đô của vua Lí Thái Tổ là sự kiện trọng đại, mở ra một thời kì phát triển và cường thịnh của đất nước trong chế độ phong kiến. 2. Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho quần thần hoặc toàn dân. Thể văn này có ở Trung Quốc từ thời cổ đại và đã truyền sang Việt Nam từ lâu đời. Chiếu có thể viết bằng văn xuôi, văn biền ngẫu hoặc văn vần, được công bố và đón nhận một cách trang trọng. 3. Chiếu dời đô thể hiện ý chí tự cường của dân tộc, khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, mở ra một thời kì hưng thịnh của đất nước. B - Luyện tập. Bài tập 1: Lí Thái Tổ đã đưa ra những lý lẽ nào để khẳng định thành Đại La xứng đáng là “ Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”? Thực tiễn lịch sử gần một nghìn năm của đất nước có đúng như điều tiên đoán và khẳng định của tác giả Chiếu dời đô không? Bài tập 2: Phân tích tư tưởng yêu nước trong bài Chiếu dời đô. Gợi ý làm bài. Bài tập 1: Bài chiếu khẳng định thành Đại La xứng đáng là “ Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”, bởi vì: + Vị trí địa lí: ở trung tâm đất nước, mở ra bốn hướng nam, bắc, tây, đông; “ được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, “ lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”. + Về địa thế: “ Rộng mà bằng”, “ đất đai cao mà thoáng”, tránh được cảnh ngập lụt. + Về vị thế chính trị, văn hoá: Là đầu mối giao lưu, “ Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương”, là mảnh đất hưng thịnh “ Muôn vật cũng rất mực phong phú tối tươi”. - Thực tiên lịch sử gần một nghìn năm qua đã cho thấy sự tiên đoán và khẳng định của vua Lí Thái Tổ về kinh đô Thăng Long là hoàn toàn đúng đắn. Thăng Long được chọn làm kinh đô của hầu hết các triều đại từ Lí, Trần, Hậu Lê, Mạc. Chỉ có triều Tây Sơn và triều Nguyễn chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Suốt nhiều thế kỉ ở thời kì phát triển, hưng thịnh của đất nước Đại Việt, kinh đô Thăng Long thực sự là nơi tụ hội và tiêu biểu cho các giá trị văn hoá, vật chất và tinh thần của đất nước, là nơi “Lắng hồn núi sông” (Nguyễn Đình Thi), cũng là một đô thị sầm uất, đứng hàng đầu trong các đô thị nước ta thời phong kiến: “ Thứ nhất Kinh kì, thứ nhì phố Hiến”. Con người “ Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” ( ca dao). Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Nội được chọn làm Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Tiếp đó là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Bài tập 2: A. Mở bài: + Giới thiệu bài Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ. + Khẳng định bài chiếu là một bài văn sáng ngời tư tưởng yêu nước. B. Thân bài: Biểu hiện của tư tưởng yêu nước trong bài chiếu. 1. Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, vững bền, đời sống nhân dân thanh bình, triều đại thịnh trị. + Thể hiện ở mục đích của việc rời đô. + Thể hiện ở cách nhìn về mối quan hệ giữa triều đại, đất nước và nhân dân. 2. Khí phách của một dân tộc độc lập tự cường: + Thống nhất giang sơn về một mối. + Khẳng định tư cách độc lập ngang hàng với Trung Hoa. + Niềm tin vào tương lai muôn đời của đất nước. C. Kết bài: + Khẳng định tư tưởng yêu nước của bài chiều. + Nêu ý nghĩa và vị trí của bài chiếu. Phần 2: Luyện đề “Hịch tướng sĩ” 1. Chứng minh bài “Hịch tướng sĩ” vừa có lập luận chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc, do đó có sức thuyết phục cao. 2. Qua “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, em hãy nêu lên nét giống và khác nhau giữa 2 thể loại: chiếu và hịch. Gợi ý 1. Đây là một đoạn văn hay, tình và lí kết hợp hài hoà, lời văn sắc bén, sôi nổi, uyển chuyển. - Trong đoạn phê phán tướng sĩ, cần chú ý cách lập luận: +Sử dụng liên tiếp những từ mang màu sắc phủ định (không biết lo, không biết thẹn, không biết tức, không biết căm) để nói về thái độ bàng quan trước vận mệnh của đất nước của các tướng sĩ. Đoạn văn này đặt ngay sau đoạn văn nói về ân tình chủ - tớ ở trên với ý: tướng sĩ đang phụ lòng tốt của chủ tướng. + Chỉ ra các thú hưởng lạc làm “quên việc nước, quên việc binh” cũng là chỉ ra thái độ vô trách nhiệm của các tướng sĩ trước vận nước, nhất là trong cảnh đất nước lâm nguy. + Chỉ ra hậu quả khôn lường: nước mất nhà tan. Cần lưu ý, tác giả nói đến hậu quả khi đất nước bị xâm chiếm: quá khứ (xã tắc tổ tông bị giày xéo, mồ mả cha ông bị quật lên), hiện tại (bị bắt, gia quyến bị tan,...), tương lai (trăm năm sau tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu,...). - Các việc nên làm: + Nêu cao tinh thần cảnh giác. + Tăng cường luyện tập, học tập Binh thư yếu lược. Những việc nên làm mà tác giả nêu lên đều gắn với chuyện ích nước lợi nhà. Để mọi người nhận thức rõ hơn, Trần Quốc Tuấn nêu lên hai viễn cảnh: (1) Khi nói đến viễn cảnh thất bại, tác giả sử dụng hàng loạt từ phủ định: không còn, cũnh mất, bị tan, cũng khốn,... (2) Khi nói đến viễn cảnh thắng lợi, tác giả sử dụng hàng loạt từ khẳng định: mãi mãi vững bền, đời đời hưởng thụ, không bị mai một, sử sách lưu thơm,... Ngoài ra, gắn với thủ pháp đối lập, tương phản, tác giả rất chú ý tác động tới tiến trình nhận thức, nêu bật vấn đề từ nông đến sâu, từ nhạt đến đậm. *. Cách lập luận phong phú và linh hoạt. Ở mỗi phần, tác giả trình bày luận điểm khác nhau. - Ở phần đầu, tác giả nêu những tấm gương trung nghĩa để khích lệ lòng tự trọng và ý chí lập công danh ở tướng sĩ. - Ở phần hai, tác giả dùng những dẫn chứng thực tế để tố cáo sự ngang ngược và tội ác của kẻ thù, sau đó trực tiếp bày tỏ nỗi lòng của mình để khơi gợi nỗi nhục mất nước và lòng căm thù giặc. - Ở phần ba, tác giả đưa ra những lời phê phán nghiêm khắc thái độ bàng quan, cầu an hưởng lạc của tướng sĩ và chỉ ra hậu quả của nó. Sau khi chỉ ra cái sai, tác giả mới ôn tồn khuyên bảo những điều tướng sĩ nên làm và chỉ ra kết quả tốt đẹp của nó. Hai đoạn văn được trình bày theo lối tương phản có tác dụng giúp cho tướng sĩ nhận rõ đúng - sai. - Ở phần cuối, tác giả vạch rõ ranh giới giữa hai con đường đúng - sai, chính - tà, ta - địch. Lời kết luận hô ứng chặt chẽ với lời mở đầu, hoàn chỉnh lập luận và xoáy mạnh vào mục đích nghị luận của bài hịch: thức tỉnh lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm. * Chứng minh bài “Hịch tướng sĩ” giàu hình tượng và cảm xúc. - Hình tượng và cảm xúc của lời văn xuất phát từ tình cảm mãnh liệt của người viết: tấm lòng yêu thương tướng sĩ, muốn tướng sĩ đi theo con đường đúng đắn. - Đặc điểm này thể hiện trong toàn bài hịch, nhưng tập trung nhất ở phần hai, qua việc tố cáo tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù: + Dùng hình ảnh ẩn dụ: lưỡi cú diều, thân dê chó. + Dùng hình ảnh tả thực: đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng... + Dùng biện pháp so sánh: Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói,... + Dùng nhiều vế ngắn liên tiếp: tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa,... như những đợt sóng lòng, chứa đầy tâm trạng. + Dùng nhiều hình ảnh khoa trương mà chân thành, giàu sức truyền cảm, khiến cho một đoạn văn chính luận mà mang đậm chất trữ tình. - Giọng văn phong phú đa dạng, bộc lộ nhiều sắc thái, cung bậc tâm trạng, làm nên sức truyền cảm mạnh mẽ. + Khi ngợi ca những tấm gương trung nghĩa, giọng văn sảng khoái hào hùng. + Khi tâm tình gan ruột, giọng văn sâu lắng mà sôi sục, thống thiết. + Khi phê phán hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan của tướng sĩ, giọng văn vừa chân tình vừa nghiêm khắc, lúc sỉ mắng thẳng thừng (không biết lo, không biết thẹn, không biết tức, không biết căm), lúc mỉa mai, chế giễu (cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai,...) + Khi khuyên bảo điều đúng nên làm, giọng văn ôn tồn thân mật. * Có thể tham khảo dàn ý sau: A. Mở bài: - Giới thiệu bài “Hịch tướng sĩ”. - Giới thiệu đặc điểm nghệ thuật bài hịch: vừa có lập luận chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc. B. Thân bài: * Nêu đặc điểm chung của thể hịch. * Chứng minh bài “Hịch tướng sĩ” có lập luận chặt chẽ, sắc bén: a. Bài hịch có trình tự và bố cục lập luận hợp với tâm lí tiếp nhận. - Nêu bố cục của bài hịch gồm 4 phần. - Tác dụng của cách bố cục đó: tác động vào nhiều mặt trong nhận thức và tình cảm của tướng sĩ. + Khích lệ ý chí lập công danh, tinh thần xả thân vì nước. + Khích lệ lòng trung quân ái quốc và ân nghĩa thuỷ chung. + Khích lệ lòng tự trọng, liêm sỉ ở mỗi người,... + Cuối cùng là khích lệ tinh thần yêu nước, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược. C. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm: là một áng văn bất hủ, là một mẫu mực về văn nghị luận trung đại. - Ở phần cuối, tác giả vạch rõ ranh giới giữa hai con đường đúng - sai, chính - tà, ta - địch. Lời kết luận hô ứng chặt chẽ với lời mở đầu, hoàn chỉnh lập luận và xoáy mạnh vào mục đích nghị luận của bài hịch: thức tỉnh lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm. 2. - Giống nhau: + Cả hai loại văn này đều nhằm mục đích ban bố công khai, là lời của bề trên nói với kẻ dưới. + Đều là thể văn nghị luận, kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, có thể được viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu. - Khác nhau: Chiếu dùng để ban bố mệnh lệnh; hịch dùng để kêu gọi, cổ vũ, thuyết phục nhằm mục đích khích lệ tinh thần, tình cảm.
Tài liệu đính kèm: