TUẦN 27 Tiết 35, 36 - Giới thiệu Hồ Chí Minh và “Nhật kí trong tù” - Luyện đề: “Ngắm trăng” , “Đi đường” I. Về tập “Nhật kí trong tù”: Giáo viên nhấn mạnh về hoàn cảnh ra đời của tập thơ và giới thiệu khái quát về “Nhật kí trong tù”. Tập thơ có nhan đề là “Ngục trung nhật kí”, gồm 133 bài thơ chữ Hán, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ đã phản ánh một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn của người chién sĩ vĩ đại. Ở đó, ta thấy một ngòi bút vừa hồn nhiên, giản dị, vừa hàm súc, sâu sắc; chất tình và chất thép,màu sắc cổ điển và tính chất hiện đại kết hợp một cách hài hoà. “Nhật kí trong tù” có tác dụng bồi dưỡng lòng yêu nước, tình nhân ái và nhân sinh quan cách mạng cho thế hệ trẻ chúng ta. Trong bài thơ “Đọc thơ Bác”, thi sĩ Hoàng Trung Thông viết: “ Ngục tối trái tim càng cháy lửa, Xích xiềng không khoá nổi lời ca. Trăm sông nghìn núi chân không ngã, Yêu nước, yêu người, yêu cỏ hoa.” II. Luyện đề “Ngắm trăng” 1. Có người cho rằng, Nhật kí trong tù là “cuộc vượt ngục về tinh thần” của Bác. Em có đồng ý với ý kiến ấy không? Hãy chỉ ra điều đó trong bài thơ này. 2. Trình bày ngắn gọn về nội dung và đặc điểm nghệ thuật của bài thơ “Ngắm trăng”. Gợi ý 1. Nhận xét này chính xác: song sắt nhà tù trở nên vô nghĩa. Nhà tù có thể giam cầm Hồ Chí Minh về thể xác nhưng không thể nào giam hãm tinh thần tự do của Bác. 2. - Ngắm trăng (Vọng nguyệt) là một thi phẩm đặc sắc trong Nhật ký trong tù. Với người tù Hồ Chí Minh, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp cao quý thanh bình. Giữa Bác và trăng luôn có mối quan hệ gần gũi, tri kỷ, tri âm. Ngắm trăng cho ta hiểu sâu hơn về tình yêu thiên nhiên thắm thiết và phong thái ung dung tự tại của Hồ Chí Minh ngay cả trong ngục tù tăm tối. - Về thể loại, Ngắm trăng thuộc thể tứ tuyệt. Đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Bác: Vừa cổ điển vừa hiện đại, vừa giản dị vừa hàm súc, hình tượng nhân vật trữ tình hiện lên với phong thái ung dung tự tại. III. Luyện đề: “Đi đường” 1. Em có nhận xét gì về bản dịch của nhà thơ Nam Trân? 2. Giới thiệu vài nét về hoàn cảnh ra đời và nội dung của bài thơ “Đi đường”. 3. Phân tích nội dung hai câu thơ đầu. Chỉ ra mối quan hệ của hai câu thơ này. 4. Về bài thơ này có hai bạn tranh luận với nhau như sau: a. Đây là bài thơ tức cảnh, tập trung miêu tả cảnh đi đường. b. Bài thơ chủ yếu thiên về triết lý, suy ngẫm. Theo em, ý kiến nào hợp lý? Vì sao? 5. Lập dàn ý cho đề bài sau: phân tích bài thơ “Đi đường” đề thấy được ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan của Bác. Gợi ý 1. Bản dịch mềm mại, tài hoa và thanh thoát nhưng một số chỗ chưa lột tả được ý thơ của nguyên tác. Cụ thể: - Thể thơ lục bát của bản dịch tuy mềm mại nhưng lại thiếu đi cái rắn rỏi, gân guốc, chặt chẽ của thể thất ngôn. - Không giữ được điệp ngữ tẩu lộ trong câu thơ đầu. - Từ ngữ chưa sát (trùng san - núi cao) Mặc dù có một số điểm như trên, nhưng bản dịch của Nam Trân là một bản dịch hay, thể hiện được thần thái của nguyên tác. 2. Trong thời gian bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam (từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943), Hồ Chí Minh bị giải đi từ nhà lao này đến nhà lao khác khắp 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Đi đường là bài thơ được viết trong hoàn cảnh này. Từ việc đi đường gian khổ, tác giả nêu lên bài học về đường đời, đường cách mạng. Bài thơ viết theo thể tứ tuyệt, giản dị mà hàm súc, cổ điển mà hiện đại. đây là bài thơ mang tư tưởng sâu sắc, hình tượng thơ cao đẹp. 3. Câu mở đầu mang giọng suy ngẫm (tài tri - mới biết). Đó là giọng thơ của một người đã trải qua nhiều lần đi đường, vượt núi. Vì thế, câu thơ rất thực, rất thấm thía. Câu thứ hai vừa có ý nghĩa giải thích cho câu mở đầu (vì sao khó), vừa phát triển ý thơ: Con đường muôn trùng núi non vẫn còn ở phía trước. 4. Ý (b) hợp lý. Để lý giải, cần hiểu được hai lớp nghĩa trong bài thơ này: lớp nghĩa đen nói chuyện đi đường , lớp nghĩa bóng nói về con đường cách mạng, đường đời. 5. Dàn ý chi tiết Mở bài: - Bài thơ “Đi đường” là một trong những bài thơ thể hiện phẩm chất, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Thân bài: * Luận điểm 1: Hành trình đi đường núi gian lao - Cách nói trực tiếp: đi đường – gian lao: tự bản thân phải được thực hành, được trải nghiệm thì mới hiểu được tính chất sự việc. - Điệp từ “núi cao” thể hiện sự khúc khuỷu, trùng trùng điệp điệp những ngọn núi nối tiếp nhau. => Suy ngẫm về sự khổ ải, khúc khuỷu, đầy trắc trở của cuộc đời; ý chí, nghị lực sẵn sàng vượt qua tất cả. * Luận điểm 2: Niềm vui sướng khi được đứng trên đỉnh cao của chiến thắng - Niềm vui sướng khi chinh phục được độ cao của núi: “lên đến tận cùng” - Tâm thế, vị thế của con người khi chinh phục được thiên nhiên, vượt qua được giới hạn của bản thân: “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” => Niềm vui sướng khi được tự do đứng ngắm nhìn cảnh vật bên dưới. Sự chiêm nghiệm về cuộc đời: vượt qua gian lao sẽ đến được đỉnh cao của chiến thắng. => Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trên đỉnh cao của chiến thắng, qua đó thể hiện nghị lực, phong thái lạc quan, yêu đời của Bác dù đó là con đường đầy ải, chân tay bị trói buộc bởi xiềng, xích. * Luận điểm 3: Nghệ thuật - Thể thơ tứ tuyệt giản dị, hàm súc - Liên tưởng sâu sắc, thể hiện tư tưởng của tác giả. Kết bài: - Khẳng định lại nội dung tác phẩm: Bài thơ “Đi đường” đã thể hiện nghị lực, ý chí và tinh thần lạc quan vượt lên mọi hoàn cảnh của Hồ Chí Minh. - Liên hệ và đánh giá tác phẩm: Qua những bài thơ như vậy, chúng ta có thể hiểu thêm được về những phẩm chất cao đẹp của Người, từ đó nhắc nhở mỗi thanh niên Việt Nam học tập và noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Tài liệu đính kèm: