Chuyên đề Công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trong trường THCS

doc 7 trang Người đăng Hải Biên Ngày đăng 01/12/2025 Lượt xem 14Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trong trường THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 CHUYÊN ĐỀ
 CÔNG TÁC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 
 MÔN NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG THCS
 I.ĐẶT VẤN ĐỀ:
 Mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất 
nước đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, 
nước ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì “nhân tài” 
là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học 
công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới đồng thời giúp chúng ta thành 
công trong phát triển đất nước.
 Do đó, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ngày càng được lãnh đạo ngành Giáo 
dục, các trường THCS và các giáo viên quan tâm.
 Đây là công việc đòi hỏi sự công phu và sáng tạo. Hiệu quả của công việc bồi 
dưỡng học sinh giỏi là sự hội tụ của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố đầu tiên có ý 
nghĩa quyết định là lòng yêu nghề, tâm huyết và sự tận tụy của người thầy đối với 
học sinh.
 Thực tế tại các trường THCS công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các bộ môn 
nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đã được chú trọng về chất lượng, song vẫn còn 
những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp dạy bồi dưỡng HSG, 
phần lớn giáo viên chỉ làm theo kinh nghiệm.Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả 
bồi dưỡng đôi lúc không đạt dược kết quả như mong muốn.
 Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn Ngữ văn trong 
đời sống xã hội. Không ít học sinh và phụ huynh có thái độ không quan tâm nhiều 
đến bộ môn Ngữ văn, coi đó là môn học khó có thể tìm được việc làm sau này mà 
chủ yếu chỉ chú trọng vào các môn khoa học tự nhiên, vì thế học sinh thường không 
thích tham gia vào đội tuyển
 Từ những lý do cơ bản trên, được sự phân công, tôi xin trình bày chuyên đề 
“Kinh nghiệm trong công tác phát hiện và bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn trong 
trường THCS”
 II.THỰC TRẠNG
 1. Thuận lợi:
 - Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn 
trong đó có môn Ngữ văn 
 - Giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt tình sử dụng nhiều phương pháp, 
 - Học sinh yêu thích và quyết tâm học tập môn Ngữ văn, tham gia ôn tập dự thi 
học sinh giỏi cấp thị xã.
 -Học sinh chịu khó trong quá trình ôn luyện, hoàn thành tốt những yêu cầu giáo 
viên đề ra
 2. Khó khăn
 1 - Số học sinh ít nên việc lựa chọn đội tuyển HSG còn gặp nhiều khó khăn
 -Có học sinh cùng lúc ôn thi 2 môn cùng với nhiều môn học trong chương trình 
chính khoá dẫn đến hiệu quả ôn luyện phần nào cũng bị ảnh hưởng
 - Một số kĩ năng cơ bản trong làm văn các em còn hạn chế đặc biệt là làm văn 
nghị luận
 -Một số em có năng khiếu nhưng không muốn tham gia vào đội tuyển do sợ 
không có thời gian cho các môn học còn lại.
 III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HSG MÔN NGỮ VĂN 
 1.Chọn học sinh giỏi
 - Lâu nay tôi thường chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tuyển chọn đội tuyển 
vào cuối mỗi năm học để bồi dưỡng, động viên trong thời gian hè. Vào đầu mỗi năm 
học mới tiếp tục chọn lần hai và tăng cường bồi dưỡng để tham gia ôn tập dự thi cấp 
thị xã. Mặt khác đối với bộ môn Ngữ văn tôi thấy việc tuyển lựa rất khó, do học sinh 
cứ ngại viết văn thậm chí rất ngán. Những em có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn 
luyện các môn học tự nhiên bởi vì chỉ cần có kiến thức cơ bản, vững vàng, nắm rõ 
các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi linh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài. 
Còn môn Ngữ văn cần có kiến thức về xã hội, văn học cộng thêm kĩ năng diễn đạt, 
lập luận, cảm thụ nên phần đông các em rất ngán.
 - Kết hợp khi dạy trên lớp tôi thường ra đề bài kiểm tra theo hướng mở để 
khuyến khích học sinh có sự đầu tư, sáng tạo khi trả lời trước tập thể lớp hay viết 
trong làm bài và thưởng điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu 
cầu và có sáng tạo.
 - Tôi tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề 
nhanh, nhạy bén, có khả năng lập luận, . Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những 
bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận 
logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp càng tốt, hoặc thông qua các bài kiểm tra 
phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học Ngữ văn. Tôi trực tiếp gặp các 
em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia 
vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, vinh dự khi đạt giải 
môn thi cấp thị xã, cấp tỉnh - đó là sự ghi nhận sự cố gắng và kết quả mà các em đã 
đạt được.
 - Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm 
hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất 
thông minh và làm việc siêng năng
 Tuy nhiên đối với bộ môn Ngữ văn tôi thấy việc tuyển chọn đội tuyển ở đơn vị 
mình gặp nhiều khó khăn do học sinh cứ ngại viết văn thậm chí rất ngán. Những em 
có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn luyện các môn học tự nhiên bởi vì chỉ cần có 
kiến thức cơ bản, vững vàng, nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi 
linh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài. Còn môn Ngữ văn cần có kiến thức về xã hội, 
văn học cộng thêm kĩ năng diễn đạt, lập luận, cảm thụ nên phần đông các em rất 
ngán.
 2 2. Xây dựng chương trình giảng dạy
 Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường. Vì ở 
lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá- giỏi, trung bình và yếu kém). 
Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi dự thi. Đối tượng dự thi đều 
ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây dựng nội dung chương 
trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng đầu tiên sau khi thành lập đội 
tuyển. 
 Tôi xây dựng chương trình – kế hoạch bồi dưỡng theo gồm 2 phần như sau:
 + Nghị luận xã hội
 + Nghị luận văn học
 3.Tiến hành bồi dưỡng
 3.1. Cung cấp kiến thức
 Trong chương trình bồi dưỡng, tôi kết hợp dạy kĩ hệ thống kiến thức cơ bản 
theo chuẩn kiến thức, kỹ năng về văn nghị luận. Đặc biệt trong từng kiểu bài cụ thể 
tôi cung cấp đảm bảo cho học sinh đạt được mức độ về kiến thức logíc là: nhận biết, 
thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo, chứ không phải nhồi nhét kiến 
thức cho học sinh.
 Từ các kiến thức cơ bản về cách làm 2 dạng đề nghị luận nghị xã hội và nghị 
luận văn học. Đây là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các dạng đề thi.tôi tiến cho 
học sinh vận dụng thực hành luyện đề phù hợp với khả năng và chương trình cho học 
sinh bồi dưỡng.
 Sau khi dạy xong một kiểu bài, tôi yêu cầu học sinh phải dành một khoảng thời 
gian để suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề đó, đặc biệt là ý 
 3.2 Rèn kỹ năng làm bài
 * Kỹ năng phân tích đề:
 Đây là kĩ năng rất quan trong bởi hiểu và phân tích đúng đề bài thì bài viết 
mới đúng yêu cầu và đạt hiệu quả. Vì thấy trong mỗi đề bài giáo viên cần hướng dẫn 
học sinh xác định được vấn đề cần nghị luận, gạch chân dưới những từ ngữ trọng tâm 
trong đề bài cần làm rõ, phạm vi kiến thức cần đưa vào bài viết.
 *. Kĩ năng lập dàn ý
 Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý tôi thường yêu cầu học sinh phải lập 
dàn ý sơ lược theo yêu cầu:
 + Xác định vấn đề nghị luận cần bàn luận trong mỗi đề bài 
 + Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết; 
 + Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm tầm quan trọng của mỗi luận điểm 
trong việc thể hiện các yêu cầu của bài; 
 + Sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ khoa học.
 3 Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên tôi thường hướng dẫn các em đặt 
hệ thống câu hỏi và tự trả lời: 
 + Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải 
quyết có thể triển khai ở những khía cạnh phương diện nào? 
 + Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh phương 
diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung và rõ nét 
các yêu cầu trọng tâm của đề? 
 + Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh nội dung cần nghị luận được trình 
bày như thế nào là tối ưu nhất?
 Từ việc nắm được cách lập dàn ý trên, tôi tiến cho học sinh vận dụng thực 
hành luyện đề phù hợp với khả năng và chương trình cho học sinh bồi dưỡng, cẩn 
thận giúp các em phát hiện những lỗi sai trong quá trình lập dàn bài.
 * Kỹ năng làm bài
 - Đọc kĩ đề bài, hiểu chính xác từng từ, tùng chữ trong đề bài phân tích đề 
 - Lập dàn ý chi tiết
 -Tiến hành viết bài theo dàn bài đã làm
 - Phân bố thời gian cho hợp lí cho từng câu phần nghị luận xã hội và nghị luận 
văn học
 - Rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt câu trên mạch lạc có sự liên kết giữa các 
câu, các phần trong bài văn
 *Cách trình bày bài thi
 - Về hình thức: không phải ai cũng viết được chữ đẹp, câu hay, nhưng hãy cố 
gắng viết cho rõ ràng, đúng câu, đúng chính tả, đừng dùng từ sáo rỗng, dài dòng, 
đừng viết tắt. Hãy luôn nhớ: Đúng, đủ, rõ ràng, lời văn giản dị, lập luận chặt chẽ, thể 
hiện được ý kiến nhận xét, đánh giá cá nhân về vấn đề đang bàn luận, trình bày khoa 
học. Tuyệt đối không được viết tùy tiện, rườm rà.
 - Về nội dung: trình bày đầy đủ các luận điểm, luận cứ để làm sáng tỏ vấn đề 
nghị luận nêu ra trong đề bài.
 3.3. Cho học sinh tiếp cận với những đoạn văn, đoạn thơ hay: 
 Mục đích của việc này là tạo hứng thú và niềm đam mê học văn cho các em ( 
giáo viên nên phân tích cho học sinh thấy được cái hay của đoạn văn, đoạn thơ đó). 
Đặt ra cho học sinh câu hỏi: đoạn văn, đoạn thơ hay là do đâu? Những hình ảnh, 
những câu từ nào đã góp phần làm nổi bật cái hay? Nhờ biện pháp tu từ nào mà tác 
giả cho ta thấy được cái hay của bài thơ, đoạn thơ đó v.v. Muốn thế, khi tiếp cận 
đoạn văn, đoạn thơ, ta hãy chú ý đến: màu sắc, hình khối, đường nét, âm thanh, từ 
ngữ mà tác giả sử dụng. Gọi tên được các biện pháp tu từ và thấy được tác dụng của 
biện pháp tu từ đó, đồng thời chú ý đến nhịp thơ: cách ngắt nghỉ, thơ dài hay ngắn, 
cách dùng từ láy ( từ láy tượng hình hay tượng thanh).
 3.4 Rèn kỹ năng viết văn- những câu văn giàu hình tượng 
 4 Đây cũng là kỹ năng quan trọng bởi nhận thức đề đúng, đề xuất luận điểm hợp 
lý, có kiến thức phong phú chưa đủ. Muốn có một bài viết hay học sinh phải biết 
trình bày những hiểu biết, những rung động suy nghĩ của mình một cách mạch lạc 
sáng sủa và có sức thuyết phục. Hơn nữa việc đánh giá lại căn cứ vào chính bài viết 
của học sinh.
 Ta biết rằng, những câu văn hay không nhiều và cũng không dễ có, mà nó được
 thanh lọc và được viết ra từ sự hiểu biết, sự cảm nhận tinh tế của học sinh mà có khi 
ta phải dạy, phải rèn cả mấy tháng trời, cả một quá trình, may ra mới có được .Để 
giúp học sinh viết được câu văn giàu hình tượng, trước hết tôi thường cho học sinh 
nhận xét sự khác nhau giữa hai câu văn có cùng một ý nhưng cách diễn đạt khác 
nhau. 
 Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh tôi thường tiến hành theo các hình thức:
 + Viết thành văn một đoạn ý: 
 - Đoạn văn giải thích;
 - Đoạn văn chứng minh một luận điểm trong bài (thường là luận điểm chính); 
 - Đoạn văn bình luận nâng cao.
 + Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên chữa 
(GV có thể sửa khoảng 2 bài /1 tuần /học sinh).
 + Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở các buổi ôn trong thời gian quy định (120 
phút). Yêu cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết sạch 
sẽ dễ đọc không mắc lỗi chính tả, dùng từ viết câu. Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh 
phải viết được những đoạn văn hay có cách dùng từ chính xác sáng tạo mới lạ, có 
giọng văn riêng thể hiện được dấu ấn phong cách của người viết.
 Để đạt được những yêu cầu đó học sinh phải tham khảo những bài văn mẫu do 
giáo viên lựa chọn định hướng; Có thể học tập cách viết ở các bạn của mình (những 
đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay). Hình thức này rất có hiệu quả bởi 
đó là những đoạn văn của bài văn hay do chính các em viết; Các em rất tự hào khi có 
được bài văn, đoạn văn hay mà được thầy cô và bạn mình trân trọng.
 Vì thế kỹ năng viết thành văn phải được tiến hành thường xuyên, bằng hình 
thức ra đề cho các em làm thêm ở nhà, giáo viên tranh thủ chấm và chữa kỹ cho các 
em.
 3.5.Tổ chức thi thử chọn HS vào đội tuyển cấp thị xã
 - Tổ chức thi cấp trường vào cuối tháng 9 hàng năm theo kế hoạch của Ban 
giám hiệu. 
 - Tổ chức thi thử theo cấu trúc đề trong những năm vừa qua, coi nghiêm túc, 
học sinh làm bài nghiêm túc.
 - Chấm và sửa bài kiểm tra thử nghiêm túc, khách quan, công khai điểm số, 
nhận xét và đánh giá năng lực từng đối tượng học sinh 
 5 - Thông báo thành lập đội tuyển ( khoảng từ 3 đến 5 học sinh tuỳ theo tình hình 
cụ thể của từng đơn vị )
 IV. PHẦN KẾT LUẬN
 Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và giỏi môn văn nói riêng 
là việc làm rất khó. Đôi khi, có thầy giỏi nhưng không có trò để ôn 
tập, ngược lại khi có trò giỏi, nhưng không phải người thầy nào cũng dễ dàng bồi 
dưỡng đạt kết quả tốt như mong muốn. Cho nên để có hai yếu tố đó đã khó và làm 
cho hai yếu tố đó giao thoa với nhau lại càng khó khăn hơn. Cứ giả sử người dạy có 
tâm huyết, đủ tri thức để giảng dạy nhưng người học không cùng đồng hành thì kết 
quả sẽ không đạt được. Có thể coi đó là hai yếu tố cần và đủ để thành công nhưng 
thiết nghĩ yếu tố năng lực chuyên môn và trách nhiệm của người thầy vẫn là đòi hỏi 
trước tiên và cấp bách hơn, vì khi người thầy giỏi, biết cảm thụ văn chương, biết 
truyền cái hay của tác phẩm đến người học thì sẽ giúp cho tâm hồn các em được 
thanh lọc, được bừng tỉnh, dần dần các em sẽ tìm thấy hứng thú trong giờ văn và từ 
đó yêu thích môn văn. Muốn vậy, người thầy phải nêu cao tinh thần “tự học, sáng 
tạo” để tích lũy kiến thức cần thiết vừa có kiến thức giảng dạy vừa đáp ứng nhu cầu 
của xã hội.
 Trên đây là chút ít kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn của bản thân, xin được chia 
sẻ cùng quý thầy,cô để cùng nhau trao đổi nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong công tác 
bồi dưỡng HSG. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm của 
quý thầy, cô để bản thân tôi được học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm quý báu.
 Hiệu trưởng Người viết
 Tăng Văn Íl Nguyễn Thị Ngọc Liễn
 6 7

Tài liệu đính kèm:

  • docchuyen_de_cong_tac_phat_hien_va_boi_duong_hoc_sinh_gioi_mon.doc