PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN DŨNG TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN NHAM BIỀN SỐ 2 ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: Xây dựng và thực hiện một số chủ đề dạy học STEM phần Cơ học Vật lý 8 theo định hướng phát triển năng lực Họ và tên: Phạm Thị Bé Môn giảng dạy: Khoa học tự nhiên, Vật lí Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2 Nham Biền, ngày 03 tháng 10 năm 2022 2 PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ Đáp ứng mục tiêu giáo dục trong chiến lược phát triển giáo dục mới chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, lấy người học là trung tâm, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, hướng đến sự hình thành, phát triển năng lực và khả năng học tập suốt đời cho học sinh... Vật lí với đặc thù là bộ môn khoa học thực nghiệm có tính công nghệ và kỹ thuật rất cao, có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn, thực hành cùng với nền tảng để học Vật lý là Toán học nên rất thuận lợi trong việc triển khai dạy học theo phương thức STEM bằng các hình thức tăng cường các hoạt động nghiên cứu, trải nghiệm sáng tạo, câu lạc bộ.... Qua đó giúp HS hiểu được các ứng dụng khoa học kỹ thuật, chế tạo các sản phẩm áp dụng vào đời sống thực tiễn, đồng thời giúp HS không những hiểu sâu sắc các kiến thức Vật lí, từ đó tạo động lực, lòng đam mê, yêu thích bộ môn. Nói tóm lại, dạy học Vật lý theo phương thức STEM là một hướng giáo dục phù hợp giúp HS phát triển đầy đủ các năng lực đặc thù và năng lực cốt lõi theo mục tiêu của chương trình GDPT mới. Qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Vật lí ở THCS tôi thấy có thể khai thác, thiết kế và thực hiện được nhiều chủ đề dạy học STEM ở tất cả các phân môn cơ, nhiệt, điện, quang và một số phần khác của bộ môn Vật lý. Trong thực tiễn, một số loại máy móc, đồ dùng quen thuộc, gần gũi phục vụ trong đời sống là những sản phẩm được ứng dụng từ Cơ học nên khai thác các chủ đề dạy học STEM phần Cơ học trong chương trình Vật lý THCS sẽ kích thích được sự hứng thú, tích cực của HS trong quá trình dạy học. Với những lí do trên nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, tôi đã nghiên cứu biện pháp “Xây dựng và thực hiện một số chủ đề dạy học STEM phần Cơ học Vật lý 8 theo định hướng phát triển năng lực”. Hy vọng đề tài sẽ góp một phần nhỏ, là nguồn tài liệu có ích giúp các thầy cô và các bạn đọc tham khảo và vận dụng vào quá trình dạy học STEM môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực ở các trường THCS. 3 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học môn Vật lí ở trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2 1. Ưu điểm Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Phòng GD&ĐT, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn cho CB - GV trong trường. Nhà trường quan tâm đầu tư về trang thiết bị dạy học. Bản thân tôi cũng luôn cố gắng tự nghiên cứu tài liệu, học hỏi trao đổi với đồng nghiệp để nâng cao kiến thức, phương pháp giảng dạy. Học sinh có ý thức tự giác, chủ động trong quá trình học tập. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1.Giáo viên Mặc dù việc tiếp cận chương trình GDPT mới đã tạo điều kiện thuận lợi hơn để có thể triển khai giáo dục STEM, tuy nhiên với khung chương trình hiện hành, GV vẫn còn gặp khó khăn trong việc tổ chức các nội dung, chủ đề sao cho vừa đảm bảo được yêu cầu của khung chương trình vừa phải phát huy tính sáng tạo của HS. Vì vậy khi triển khai chương trình GDPT mới cần phải có hướng dẫn về những chủ đề STEM trong các môn, lĩnh vực học tập để tạo thuận lợi cho GV tổ chức dạy học. Tâm lý ngại tìm hiểu, ngại sáng tạo cùng với trình độ GV chưa đáp ứng được yêu cầu. Phần lớn GV chưa có nhận thức đầy đủ về giáo dục STEM và có những hướng suy nghĩ giáo dục STEM cao xa, khó thực hiện. GV gặp khó khăn khi triển khai dạy học theo hướng liên ngành như giáo dục STEM. Bên cạnh đó, GV còn ngại học hỏi, ngại chia sẻ với đồng nghiệp, nên chưa có sự phối hợp tốt giữa GV các bộ môn trong dạy học STEM. Sĩ số mỗi lớp học quá đông cũng gây khó khăn cho tổ chức hoạt động, cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học của GV. 2.2. Học sinh Chương trình bộ môn Vật lí còn nặng tính hàn lâm chưa phù hợp vớí mọi đối tượng. Tư tưởng nhiều HS coi môn Vật lí là môn phụ nên học sinh không lo 4 sợ kết quả, không có hứng thú học tập. Chủ yếu học sinh tập trung vào Văn, Toán, Anh nên đa số các em không đầu tư nhiều thời gian cho bộ môn này. Mặc dù khoa học và công nghệ đang từng ngày, từng giờ thay đổi, các hiện tượng thực tế học sinh phải tiếp xúc rất phong phú, thế nhưng việc cập nhật, khai thác thông tin để phục vụ vào cuộc sống chưa hiệu quả. Đối với học sinh THCS các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó. Môn Vật lí trong trường THCS là một trong những môn học khó dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu. Vấn đề vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm tăng khả năng tư duy của học sinh sau khi học xong lí thuyết là hết sức khó khăn. Trước khi tiến hành biện pháp tôi đã khảo sát số học sinh được tiếp cận và ứng dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực gắn thực hành với thực tiễn đời sống trong năm học: 2021- 2022. STT Nội dung Số ý kiến Tỷ lệ 1 Chưa được biết cách học gắn với tự tìm 20 21,98 hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống. 2 Thường xuyên áp dụng cách học gắn với 0 0 tự tìm hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống 3 Rất ít áp dụng cách học gắn với tự tìm 10 10,99 hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống. 4 Chỉ học theo lý thuyết không liên quan 61 67,03 đến thực tế, không được trải nghiệm thực tế. 5 II. Biện pháp xây dựng và thực hiện một số chủ đề dạy học STEM phần Cơ học Vật lý 8 theo định hướng phát triển năng lực 1. Biện pháp 1: Xây dựng một số chủ đề dạy học theo định hướng STEM phần Cơ học Vật lí 8 Dựa vào nhu cầu thực tiễn của cuộc sống mà HS cần khám phá, kết hợp với nội dung kiến thức chương trình SGK Vật lý 8 phần Cơ học, GV có thể xây dựng được nhiều chủ đề dạy học STEM. Tuy nhiên khi lựa chọn, xây dựng và thực hiện các chủ đề STEM này thì GV cần lưu ý không nên để ảnh hưởng đến thời lượng dạy học của bộ môn, xáo trộn nhiều kiến thức trong chương trình dạy học. Sau khi học xong chủ đề STEM, HS phải nắm được các chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình THCS, các chủ đề STEM khai thác phù hợp với điều kiện thực tiễn dạy học của nhà trường, trình độ của HS. Trên cơ sở đó, tôi đề xuất một số chủ đề STEM phần Cơ học Vật lý 8 mà theo tôi là phù hợp trong quá trình dạy học tại trường THCS. Đề xuất xây dựng một số chủ đề STEM cơ bản phần Cơ học Vật lí 8. Trong quá trình triển khai, tôi đã đề xuất 4 chủ đề như sau: STT Chủ đề thực tiễn Kiến thức, kỹ năng môn Vật lý có liên quan 1 Thiết kế xe đua mô Vận tốc (Vật lý 8 – Bài 2) hình Lực ma sát (Vật lý 8 – Bài 5) Cơ năng (Vật lý 8 – Bài 16) 2 Máy thủy lực nâng vật Áp suất (Vật lý 8 – Bài 7) Áp suất chất lỏng (Vật lý 8 – Bài 8) Bình thông nhau – máy nén thủy lực (Vật lý 8 – Bài 8) 3 Chế tạo phao bơi Lực đẩy Ác-Si-Mét (Vật lý 8 – Bài 10) Thực hành: Nghiệm lại lực đẩy Ác-Si-Mét (Vật lý 8 – Bài 11) Sự nổi (Vật lý 8 – Bài 12) 4 Thuyền chở vật liệu Lực đẩy Ác-Si-Mét (Vật lý 8 – Bài 10) 6 Thực hành: Nghiệm lại lực đẩy Ác-Si-Mét (Vật lý 8 – Bài 11) Sự nổi (Vật lý 8 – Bài 12) Với các chủ đề STEM cơ bản được xây dựng trên cơ sở kiến thức thuộc phạm vi các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán trong chương trình giáo dục phổ thông. Các sản phẩm chủ đề STEM này thường đơn giản, bám sát nội dung SGK và thường được xây dựng trên cơ sở các nội dung thực hành, thí nghiệm trong chương trình GDPT. Tùy theo mục đích xây dựng chủ đề, GV có thể sử dụng chủ đề STEM cơ bản để xây dựng kiến thức mới, điều này có nghĩa là HS muốn hoàn thành nhiệm vụ học tập thì phải tự chiếm lĩnh các kiến thức có liên quan. Hoặc có thể sử dụng các chủ đề STEM cơ bản và chủ đề STEM mở rộng để vận dụng, rèn luyện các kiến thức, kĩ năng sau một chủ đề hoặc một chương học. Sau khi giải quyết vấn đề học tập, HS sẽ có những kiến thức sâu sắc hơn, nhớ được lâu hơn và áp dụng được nhiều hơn vào thực tiễn cuộc sống. - Kết nối với những sảm phẩm, vật phẩm ứng dụng trong thực tế. - Phân tích ứng dụng. - Chỉ ra các kiến thức liên quan trong các môn học thuộc lĩnh vực STEM. - Hình thành sản phẩm. 2. Biện pháp 2: Xây dựng tiến trình bài học STEM môn Vật lí Bước 1: Xác định các vấn đề của chủ đề - Nhu cầu đó là gì? - Ai là người cần chúng ? - Khi nào cần chúng ? -Ở đâu cần chúng? - Làm thế nào để chúng ta có thể giúp họ? Bước 2: Xác định các kiến thức Vật lý Hóa học Khoa học + công nghệ + kỹ thuật + Toán = STEM 7 Sinh học Bước 3: Xác định mục tiêu việc dạy học chủ đề - Những kiến thức nào ? - Kỹ năng gì ? - Thái độ nào ? - Những năng lực cần đạt là gì? Bước 4: Xây dựng nội dung học tập Chủ đề có các hoạt động gì ? Các hoạt động đó nhằm đạt tới mục tiêu gì ? nội dung dạy học có liên quan như thế nào với các mục tiêu và nội dung môn học STEM ? Biểu hiện thực tế của mối liên hệ đó là gì ? - Xây dựng nội dung phải huy động kiến thức tổng hợp của các môn học thuộc lĩnh vực STEM - Nội dung giáo dục STEM phải đảm bảo tính vừa sức đối với người học. - Nội dung giáo dục STEM phải có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với cuộc sống và trải nghiệm của học sinh. Bước 5: Thiết kế nhiệm vụ *Đáp ứng nhiệm vụ nhằm phát triển năng lực: - Năng lực giải quyết vấn đề - Năng lực hợp tác - Năng lực tự học - Năng lực quản lý, sáng tạo - Năng lực giao tiếp * Một số hoạt động học tập: - Chuẩn bị nội dung dạy học theo định hướng STEM. - Kết nối nội dung hoạt động dạy học với vấn đề thực tiễn. - Nêu rõ vấn đề STEM mà học sinh cần giải quyết. - GV đưa ra các tiêu chí chất lượng về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành. - Hướng dẫn học sinh vận dụng tiến trình thiết kế kỹ thuật cho việc tạo ra sản phẩm đó chính là qui trình : thử – sai – chỉnh. - Giáo viên hướng dẫn học sinh các vấn đề cần giải quyết 8 - Lôi kéo học sinh tham gia giải quyết vấn đề bằng chính trải nghiệm thực hành, trải nghiệm thực tế của học sinh một cách chủ động - Khuyến khích các nhóm học sinh trình bày ý tưởng (nêu giải pháp) trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để giải quyết vấn đề ?” - Hướng dẫn các nhóm chọn một ý tưởng và thực hiện tạo ra sản phẩm - Hỗ trợ học sinh trong quá trình thực nghiệm nguyên mẫu và cải tiến. - Tổ chức các nhóm trao đổi kết quả - Điều chỉnh, thiết kế lại và cải tiến sản phẩm. Bước 6: Tổ chức dạy học và đánh giá -Tổ chức dạy học: Giới thiệu chủ đề -> Trải nghiệm -> Kết thúc. -Đánh giá: + Năng lực học sinh đạt được gì ? + Tính hiệu quả của chủ đề là gì ? 3. Biện pháp 3: Tổ chức dạy học chủ đề STEM “Máy thủy lực nâng vật” Trong 4 chủ đề mà tôi đã đề xuất để dạy học một số bài học Vật l thuộc phần Cơ học Vật lý 8 theo phương thức STEM như đã giới thiệu trên đây, trong quá trình tổ chức dạy học, tôi đã tổ chức cho HS thực hiện thông qua nhiều hình thức như lồng ghép dạy học chủ đề STEM vào một số tiết học trên lớp, dạy học dự án, các hoạt động trải nghiệm như: tổ chức câu lạc bộ Vật lý, hoạt động ngoại khóa, giao nhiệm vụ về nhà cho HS dưới sự hướng dẫn của GV. Trong giải pháp này tôi lựa chọn giới thiệu và xin được trình bày cụ thể quá trình tổ chức dạy học 1chủ đề STEM. 1. Mô tả chủ đề Học sinh tìm hiểu và vận dụng kiến thức về Áp suất chất lỏng- Bình thông nhau. (Bài 9- Vật lí 8) để thiết kế và chế tạo máy nén thủy lực với những tiêu chí cụ thể. Sau khi hoàn thành, học sinh sẽ được thử nghiệm và nắm được cách thức chế tạo thiết bị để nâng vật nặng lên cao. 2. Mục tiêu a. Kiến thức: 9 - Vận dụng được các kiến thức về áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau - máy nén thủy lực để chế tạo máy nâng vật theo yêu cầu, tiêu chí cụ thể; - Vận dụng kiến thức công thức hệ quả của áp suất: F/ f = S/s một cách sáng tạo để giải quyết các vấn đề tương tự. b. Kĩ năng: - Tính toán, vẽ được bản thiết kế máy thủy lực đơn giản nâng vật đảm bảo các tiêu chí đề ra; - Lập kế hoạch cá nhân/nhóm để chế tạo và thử nghiệm dựa trên bản thiết kế; - Trình bày, bảo vệ được bản thiết kế và sản phẩm của mình, phản biện được các ý kiến thảo luận; - Tự nhận xét, đánh giá được quá trình làm việc cá nhân và nhóm. c. Phẩm chất: - Nghiêm túc, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học; - Yêu thích sự khám phá, tìm tòi và vận dụng các kiến thức học được vào giải quyết nhiệm vụ được giao; - Có tinh thần trách nhiệm, hòa đồng, giúp đỡ nhau trong nhóm, lớp; - Có ý thức tuân thủ các tiêu chuẩn kĩ thuật và giữ gìn vệ sinh chung khi thực nghiệm. d. Năng lực: - Tìm hiểu khoa học, cụ thể về các ứng dụng của áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau - máy nén thủy lực. - Giải quyết được nhiệm vụ thiết kế và chế tạo thuyền một cách sáng tạo; - Hợp tác với các thành viên trong nhóm để thống nhất bản thiết kế và phân công thực hiện; - Tự nghiên cứu kiến thức, lên kế hoạch thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và đánh giá. 3. Thiết bị - Các thiết bị dạy học: giấy A4, mẫu bản kế hoạch, 10 - Nguyên vật liệu và dụng cụ để chế tạo và thử nghiệm “máy thủy lực nâng vật”: - Bảng gỗ (1 miếng gỗ mỏng. Kích thước khoảng 20×40 cm). - Bơm kim tiêm loại nhỏ (1 cái). - Bơm kim tiêm loại to (1 cái). - Quả nặng (2 quả, 1 quả 500g, 1 quả 1.5kg). - Ống nhựa truyền dịch đã qua sử dụng (1 đoạn, 40 cm). - Mực tím (1 lọ). - Keo 502 (1 lọ). - Dụng cụ: 1 cây kéo. 4. Tiến trình dạy học Hoạt động 1. Xác định yêu cầu thiết kế và chế tạo máy thủy lực nâng vật a. Mục đích của hoạt động - Học sinh nắm vững yêu cầu "Thiết kế và chế tạo máy thủy lực nâng vật” bằng chất dẻo (do giáo viên cung cấp) theo các tiêu chí: Tải trọng của vật được nâng là 1 kg; Sử dụng vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm. - Học sinh hiểu rõ yêu cầu vận dụng kiến thức về áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau - máy nén thủy lực để thiết kế và thuyết minh thiết kế trước khi sử dụng nguyên vật liệu, dụng cụ cho trước để chế tạo và thử nghiệm. b. Nội dung hoạt động - Tìm hiểu về một số phương tiện kích thủy lực, phanh thủy lực, thang máy thủy lực, được sử dụng trong cuộc sống. - Xác định nhiệm vụ chế tạo máy thủy lực nâng vật bằng chất dẻo với các tiêu chí: - Tải trọng của vật cần nâng: 1 kg - Sử dụng vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm. c. Sản phẩm học tập của học sinh - Mô tả và giải thích được một cách định tính về nguyên lí chế tạo máy thủy lực. 11 - Xác định được kiến thức cần sử dụng để thiết kế, chế tạo máy thủy lực theo các tiêu chí đã cho. d. Cách thức tổ chức - Giáo viên giao cho học sinh tìm hiểu về một máy thủy lực (mô tả, xem hình ảnh, video ) với yêu cầu: mô tả đặc điểm, hình dạng, nguyên tắc hoạt động của máy thủy lực; giải thích tại sao có thể nâng được một vật từ thấp lên cao. - Học sinh ghi lời mô tả và giải thích vào vở cá nhân; trao đổi với bạn (nhóm đôi hoặc 4 học sinh); trình bày và thảo luận chung. - Giáo viên xác nhận kiến thức sử dụng là áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau, máy nén thủy lực và giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu trong sách giáo khoa để giải thích bằng tính toán thông qua việc thiết kế, chế tạo máy thủy lực với các tiêu chí. Hoạt động 2. Nghiên cứu kiến thức trọng tâm và xây dựng bản thiết kế a. Mục đích của hoạt động Học sinh hình thành kiến thức mới về về áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau, máy nén thủy lực để thiết kế và chế tạo những máy thủy lực đơn giản nâng vật bằng chất dẻo với những tiêu chí cụ thể. b. Nội dung hoạt động - Học sinh nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo về các kiến thức trọng tâm sau: + Áp suất (Vật lý 8 – Bài 7) + Áp suất chất lỏng (Vật lý 8 – Bài 8) + Bình thông nhau – máy nén thủy lực (Vật lý 8 – Bài 8) - Học sinh thảo luận các thiết kế khả dĩ của máy thủy lực nâng vật và đưa ra giải pháp. Gợi ý: + Điều kiện nào để máy thủy lực đơn giản nâng được vật 1 kg? + Những hình dạng, kích thước, pit-tong như thế nào của máy thủy thì lực có thể nâng vật nhẹ nhàng và nhanh chóng. 12 + Các nguyên liệu, dụng cụ nào cần được sử dụng và sử dụng như thế nào? - Học sinh xây dựng phương án thiết kế và chuẩn bị cho buổi trình bày trước lớp (các hình thức: thuyết trình, poster, powerpoint...). Hoàn thành bản thiết kế (phụ lục đính kèm) và nộp cho giáo viên. - Yêu cầu: Bản thiết kế chi tiết có kèm hình ảnh, mô tả rõ kích thước, hình dạng của máy thủy lực các nguyên vật liệu sử dụng Trình bày, giải thích và bảo vệ bản thiết kế theo các tiêu chí đề ra. Chứng minh để nâng vật có khối lượng 1 kg bằng tính toán cụ thể. c. Sản phẩm của học sinh - Học sinh xác định và ghi được thông tin, kiến thức về áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau, máy nén thủy lực - Học sinh đề xuất và lựa chọn giải pháp có căn cứ, xây dựng được bản thiết kế máy thủy lực đảm bảo các tiêu chí. d. Cách thức tổ chức - Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: + Nghiên cứu kiến thức trọng tâm: về áp suất, áp suất chất lỏng, bình thông nhau, máy nén thủy lực; + Xây dựng bản máy thủy lực theo yêu cầu; + Lập kế hoạch trình bày và bảo vệ bản thiết kế. - Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm: + Tự đọc và nghiên cứu sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, tìm kiếm thông tin trên Internet + Đề xuất và thảo luận các ý tưởng ban đầu, thống nhất một phương án thiết kế tốt nhất; + Xây dựng và hoàn thiện bản thiết kế máy thủy lực; + Lựa chọn hình thức và chuẩn bị nội dung báo cáo. - Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh khi cần thiết. 13 Hoạt động 3. Trình bày bản thiết kế a. Mục đích của hoạt động Học sinh hoàn thiện được bản thiết kế máy thủy lực của nhóm mình. b. Nội dung hoạt động - Học sinh trình bày, giải thích và bảo vệ bản thiết kế theo các tiêu chí đề ra. Chứng minh nâng vật có khối lượng 1 kg bằng tính toán cụ thể. - Thảo luận, đặt câu hỏi và phản biện các ý kiến về bản thiết kế; ghi lại các nhận xét, góp ý; tiếp thu và điều chỉnh bản thiết kế nếu cần. - Phân công công việc, lên kế hoạch chế tạo và thử nghiệm. c. Sản phẩm của học sinh Bản thiết kế sau khi được điều chỉnh và hoàn thiện. d. Cách thức tổ chức - Giáo viên đưa ra yêu cầu về: + Nội dung cần trình bày; + Thời lượng báo cáo; + Cách thức trình bày bản thiết kế và thảo luận. - Học sinh báo cáo, thảo luận. - Giáo viên điều hành, nhận xét, góp ý và hỗ trợ học sinh. Hoạt động 4. Chế tạo và thử nghiệm máy thủy lực nâng vật a. Mục đích của hoạt động - Học sinh dựa vào bản thiết kế đã lựa chọn để chế tạo máy thủy lực đảm bảo yêu cầu đặt ra. - Học sinh thử nghiệm, đánh giá sản phẩm và điều chỉnh nếu cần. b. Nội dung hoạt động - Học sinh sử dụng các nguyên vật liệu và dụng cụ cho trước (tấm gỗ, hai bơm tiêm, dây chuyền,dây buộc,...) để tiến hành chế tạo máy nâng thủy lực theo bản thiết kế. 14 - Trong quá trình chế tạo các nhóm đồng thời thử nghiệm và điều chỉnh bằng việc đặt vật lên pittong lớn và kiểm tra lực tác dụng lên pittong nhỏ quan sát, đánh giá và điều chỉnh nếu cần. c. Sản phẩm của học sinh - Mỗi nhóm có một sản phầm là một máy nâng thủy lực đơn giản đã được hoàn thiện và thử nghiệm. d. Cách thức tổ chức - Giáo viên giao nhiệm vụ: + Sử dụng các nguyên vật liệu và dụng cụ cho trước để chế tạo máy thủy lực theo bản thiết kế; + Thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện sản phẩm. - Học sinh tiến hành chế tạo, thử nghiệm và hoàn thiện sản phầm theo nhóm. - Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh nếu cần. Hoạt động 5. Trình bày sản phẩm a. Mục đích của hoạt động Các nhóm học sinh giới thiệu thuyền chở vật liệu trước lớp, chia sẻ về kết quả thử nghiệm, thảo luận và định hướng cải tiến sản phầm. b. Nội dung hoạt động - Các nhóm trình diễn sản phẩm trước lớp. - Đánh giá sản phẩm dựa trên các tiêu chí đã đề ra: + Khả năng nâng vật (tiêu chuẩn là 1 kg); + Vật liệu dễ kiếm, rẽ tiền. Chia sẻ, thảo luận để tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện sản phẩm. Các nhóm tự đánh giá kết quả nhóm mình và tiếp thu các góp ý, nhận xét từ giáo viên và các nhóm khác; Sau khi chia sẻ và thảo luận, đề xuất các phương án điều chỉnh sản phẩm; Chia sẻ các khó khăn, các kiến thức và kinh nghiệm rút ra qua quá trình thực hiện nhiệm vụ thiết kế và chế tạo máy thủy lực đơn giản. 15 c. Sản phẩm của học sinh Máy thủy lực đã chế tạo được và nội dung trình bày báo cáo của các nhóm. d. Cách thức tổ chức - Giáo viên giao nhiệm vụ: các nhóm trình diễn sản phẩm trước lớp và tiến hành thảo luận, chia sẻ - Học sinh trình diễn nâng vật của máy thủy lực, mức vững vàng khi có chấn động và độ linh hoạt khi di chuyển. - Các nhóm chia sẻ về kết quả, đề xuất các phương án điều chỉnh, các kiến thức và kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thiết kế và chế tạo máy thủy lực. - Giáo viên đánh giá, kết luận và tổng kết. Hình ảnh tiết học và sản phẩm của học sinh 16 Hình ảnh về chủ đề STEM khác *Qua việc triển khai các nội dung của giải pháp trong năm học 2021- 2022 vào quá trình giảng dạy tôi thấy: 17 Kết quả sau khi thực hiện biện pháp: STT Nội dung Số ý kiến Tỷ lệ 1 Chưa được biết cách học gắn với tự tìm 0 0 hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống. 2 Thường xuyên áp dụng cách học gắn với 81 89,01 tự tìm hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống 3 Rất ít áp dụng cách học gắn với tự tìm 10 10,99 hiểu kiến thức và thực hành thực tế đời sống. 4 Chỉ học theo lý thuyết không liên quan 0 0 đến thực tế, không được trải nghiệm thực tế. Quan sát quá trình học tập của HS ở các tiết học thực nghiệm và đối chứng, kết quả của bài kiểm tra, chúng tôi nhận thấy việc dạy học các bài học phần Cơ học Vật lý 8 theo định hướng STEM có hiệu quả hơn hẳn so với tiết dạy thông thường về điểm số học tập, chất lượng và không khí giờ học. Sau khi đề xuất xây dựng được 4 chủ đề dạy học STEM phần Cơ học Vật lý 8, bằng nhiều hình thức khác nhau như tổ chức thành các câu lạc bộ, sinh hoạt ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, lồng ghép trong các tiết học lý thuyết, thực hành tôi đã tiến hành triển khai dạy học một số chủ đề ở khối lớp 8 tại trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2 (trong đó có 1 chủ đề dạy học STEM như đã giới thiệu cụ thể) và thu được những kết quả : Đối với nhà trường: Góp phần vào phong trào thi đua đổi mới phương pháp, sáng tạo trong dạy học. Nhiều GV được nâng cao hiểu biết nhất định về giáo dục STEM và vận dụng giáo dục STEM vào dạy học bộ môn để thu được hiệu quả. Năng lực tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM của GV sau khi dự giờ các tiết học này cũng được nâng lên. GV đã hiểu rõ hơn cách thiết kế và tổ chức dạy học theo định hướng này. 18 Đối với các lớp đã triển khai dạy học STEM: Được sự đồng ý của BGH trường, chúng tôi đã triển khai giáo dục STEM từ năm học 2020 – 2021. Riêng trong năm học 2021 – 2022 tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tìm hiểu HS và thực trạng giáo dục STEM, từ đó có các hình thức tổ chức dạy học chủ đề STEM phù hợp ở lớp 8 để kiểm tra kết quả nghiên cứu của đề tài trong thời gian từ tháng 9/2021 đến tháng 01/2022. Trong các giờ học STEM, HS lớp thực nghiệm cũng tích cực, hào hứng xây dựng bài, các năng lực như hợp tác, giao tiếp, sáng tạo, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin đặc biệt các năng lực đặc thù môn Vật lý như năng lực thực nghiệm được phát triển mạnh mẽ. Qua triển khai, chúng tôi thu được một số sản phẩm dùng làm mô hình dạy học hoặc để HS các khóa sau tham khảo, tạo hứng thú học tập cho các em. Mặt khác, qua các tiết dạy học theo chủ đề STEM, nhiều HS thực sự đam mê, thích tìm tòi, sáng tạo, hiểu rõ nguyên lý, đưa ra nhiều ý tưởng hay, chế tạo ra nhiều sản phẩm lý thú, bổ ích. Trước mắt khi nhiều trường THCS chưa trang bị được cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học STEM cũng như chưa có mô hình liên kết với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp về STEM thì việc triển khai dạy học môn Vật lý theo định hướng STEM thông qua các chủ đề dạy học thật sự là một hướng đi phù hợp và hiệu quả để từng bước đưa giáo dục STEM vào nhà trường. - Đề xuất được hệ thống 4 chủ đề dạy học STEM phần Cơ học Vật lý 8 giúp HS tiếp cận các kiến thức lý thuyết kỹ thuật vốn trừu tượng, khô khan trở nên dễ hiểu, gần gũi bởi quá trình trải nghiệm được thực hành trên các sản phẩm. Đặc biệt với 04 chủ đề STEM mở rộng giúp HS bước đầu sáng tạo và tiếp cận gần hơn với khoa học, công nghệ, khơi nguồn cho niềm đam mê khoa học cho các nhà sáng chế trẻ. Mặc dù đề tài đang triển khai ở mức độ dạy học các môn khoa học theo phương thức STEM, những chủ đề STEM được đề xuất và thực hiện còn ở góc độ đơn giản, các sản phẩm HS tạo ra có thể không mới với xã hội nhưng có tính mới với HS nên bước đầu đã tạo ra sự thay đổi về cách học, lối tư duy, nhận thức 19 của HS về bộ môn Vật lý nói riêng và các môn Khoa học tự nhiên nói chung. Bởi vì mục đích chính của các chương trình giáo dục STEM không phải để đào tạo ra các nhà khoa học, nhà toán học, kỹ sư mà chính là sự truyền cảm hứng trong học tập, thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức và nhận thức được tầm quan trọng của các kiến thức STEM ảnh hưởng đến thế giới và sự phát triển của xã hội thực tại, tương lai. Các chủ đề STEM phần Cơ học được xây dựng để tổ chức dạy học môn Vật lý mang lại những hiệu quả nhất định. Những kiến thức về kỹ thuật máy móc được cho là “khó hiểu”, “khó nhớ”, “khó hình dung” được minh họa bằng các ví dụ thực tế trở nên dễ nắm bắt, và song song với việc học kiến thức mới, HS có điều kiện tham gia vào các hoạt động thực hành để có được trải nghiệm sáng tạo trong thực tế, từ đó sẽ hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn những kiến thức đã học. Sau khi thực hiện đề này nhiều sản phẩm đã được HS chế tạo bằng sự sáng tạo của mình, để phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Chính những việc làm này đã bồi dưỡng cho các em ý thức tự học, tự tìm tòi, sáng chế, đây là một trong mục tiêu quan trọng trong dạy học mà giáo dục đang hướng tới. Như vậy có thể kết luận rằng giáo dục STEM đã mang lại những lợi ích thiết thực cho HS. STEM học 1 được 4 vì chỉ với 1 mô hình học nhưng HS có thể học được các môn học khác nhau: Toán, Khoa học, Công nghệ đan xen và bổ trợ cho nhau như một khối thống nhất. HS sẽ thấy được sự liên quan của các môn học khác nhau. Giúp các em có được một bức tranh tổng thể về kiến thức các môn học. STEM mang lại cho HS phát triển kỹ năng sáng tạo, kích thích trí tưởng tượng, tập tính kiên nhẫn, khả năng làm việc nhóm, khả năng lãnh đạo, thuyết trình trước đám đông, tự giải quyết vấn đề, tư duy máy tính, phát triển ngôn ngữ. Các chủ đề STEM thực hiện bằng phương pháp dạy học dự án và tình huống thực tế làm cho HS thấy được lý thuyết khoa học gắn với đời sống của mình và thế giới xung quanh.Tạo môi trường học tập sinh động, cởi mở, rút 20 ngắn khoảng cách giữa thầy và trò. STEM mang đến sự thú vị, tươi mới trong phương pháp giảng dạy thông qua các câu chuyện, nhiệm vụ, ngày càng kích thích sự sáng tạo vô hạn vốn đã có sẵn trong các em. Từ đó, các em có thể ứng dụng những nguyên lý đã học trong những sản phẩm thật sự ngoài đời. Nhờ đó kiến thức được lưu lại lâu hơn và có ý nghĩa hơn đối với tất cả HS. HS có thể thỏa chí thể hiện suy nghĩ, sự tưởng tượng phong phú của mình. Những HS theo học STEM đều có những ưu thế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắc chắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội và có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn mà không hề gây cảm giác nặng nề, quá tải đối với HS. Với những kết quả đem lại khi thực hiện đề tài này đã cho chúng tôi thấy rằng việc dạy học Vật lý theo định hướng STEM trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và phù hợp, bằng trình độ và sự tâm huyết đối với nghề chúng tôi tin rằng mọi GV đều có thể thực hiện được hình thức dạy học Vật lý này một cách có hiệu quả vì chỉ với hình thức giáo dục STEM, môn Vật lý mới thể hiện được những đặc thù riêng biệt của nó là một môn khoa học thực nghiệm. * Hướng mở rộng của đề tài Khai thác các chủ đề dạy học STEM ở các phân môn khác như điện học, nhiệt học, quang học và một số phần khác của Vật lý để phục vụ dạy học hiệu quả các bài học thuộc chương trình Vật lý THCS. Các chủ đề STEM có phạm vi kiến thức rộng tạo thành các tổ hợp STEM (một chủ đề STEM có thể tạo ra nhiều sản phẩm) để gắn kết các đơn vị kiến thức các bài học trong chương trình bộ môn. Phát triển các chủ đề STEM mở rộng nhiều kiến thức liên ngành với mục đích là sau khi thực hiện được các đề tài này HS có những nhận thức cao hơn không chỉ về bộ môn Vật lý mà các phát triển tư duy và củng cố kiến thức các môn khoa học, Toán, Công nghệ, Tin học. Các sản phẩm STEM tạo ra sau mỗi chủ đề có tính ứng dụng cao trong thực tiễn, gắn liền với các vấn đề cấp bách của xã hội như chống ô nhiễm môi trường, vấn đề về thiên tai, sử dụng và tái tạo các nguồn năng lượng trong tự nhiên . Xây dựng các chủ đề STEM theo
Tài liệu đính kèm: