PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN DŨNG TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN NHAM BIỀN SỐ 2 ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: Phát triển kĩ năng ghi nhớ kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Họ và tên: Hoàng Thị Hồng Môn giảng dạy: Lịch sử Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2 Yên Dũng, ngày 7 tháng 10 năm 2022 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm Lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó chính là niềm tự hào đối với mỗi người dân Việt, cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Câu nói trên đã khẳng định vị trí, vai trò của Lịch sử trong sự nghiệp giáo dục của đất nước, đồng thời trong sự nghiệp giáo dục nhân cách mỗi con người với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Chính vì thế môn Lịch sử đã và đang được đưa vào giảng dạy ở các bậc học, từ bậc tiểu học, THCS đến THPT. Tuy nhiên, thực tế ngày nay cho thấy, môn Lịch sử chưa thực sự được coi trọng, chưa thực sự đúng với vai trò và ý nghĩa của mình. Phần lớn các em HS không còn mấy hứng thú với môn Lịch sử, chán học Lịch sử, chỉ coi môn Lịch sử là môn phụ và không dành nhiều thời gian học tập. Các em cho rằng, môn Lịch sử là môn học nói về những gì xảy ra trong quá khứ, nên học môn Lịch sử thì phải nhớ sự kiện thì mới học tốt. Lịch sử bắt đầu từ khi con người ra đời cho đến ngày nay, trải qua hàng triệu năm, khối lượng kiến thức đồ sộ nên việc ghi nhớ lượng kiến thức như thế là rất lớn, sẽ khiến HS cảm thấy nhàm chán. Đây là một trong những nguyên nhân khiến Lịch sử bị HS “quay lưng”. HS thường chọn những môn học các em cho rằng có thể thi được ở nhiều trường đại học hơn, thậm chí việc lựa chọn mang tính thực dụng hơn khi các em cho rằng cơ hội có việc làm sau khi ra trường lớn hơn. Do vậy HS thường ít lựa chọn các môn học thuộc khối xã hội, trong đó có môn Lịch sử. Bên cạnh những định kiến của xã hội, còn có những tác động khác như GV dạy chưa hay, trong quá trình dạy học chưa giúp HS nắm bắt kiến thức nhanh, chưa khiến các em hiểu được bản chất sự việc một các tổng quan hoặc có cái nhìn bao quát vấn đề. Cơ sở vật chất của nơi học chưa đáp ứng yêu cầu, còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa giúp các em tái hiện lại hoàn cảnh Lịch sử một cách toàn diện nhất, Với các lí do nêu trên tôi đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ cho HS từ đó góp phần tạo hứng thú học môn Lịch sử cho các em, đưa môn Lịch sử trở về đúng vai trò và vị trí của nó trong nền giáo dục Việt Nam. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học môn Lịch sử ở trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2 Hiện nay việc học Lịch sử ở THCS đã có những thay đổi đặc biệt là phương pháp học tập. GV đã vận dụng sử dụng các biện pháp sư phạm để có thể phát huy tối đa năng lực học tập của các em, khiến các em HS hứng thú với môn Lịch sử tuy nhiên vẫn chưa đạt dược hiệu quả cao. Để tìm hiểu thực trạng dạy học Lịch sử ở trường THCS, tôi tiến hành điều tra thực tế tại trường THCS TT Nham Biền số 2 và trường THCS Tân Mỹ (5 GV, 41 HS) Về phía giáo viên Tôi tiến hành phát phiếu điều tra với 5 GV Bảng 1: Kết quả điều tra về quan niệm của giáo viên về hình thành và phát triển kĩ năng ghi nhớ kiến thức cho học sinh Nội Quan niệm về hứng thú Vai trò của kỹ năng Mức độ sử dụng các biện dung học tập Lịch sử của HS ghi nhớ trong dạy học pháp phát triển khả năng Lịch sử ghi nhớ cho HS Thích BT Không Rất BT Không Thường Thỉnh Không thích quan quan xuyên thoảng sử trọng trọng dụng SL % 1 20 3 60 1 20 3 60 2 40 0 0 2 40 1 20 2 40 Như vậy, theo kết quả điều tra GV ở Trường THCS thì chỉ có 20% HS thích học môn Lịch sử, có tới 60% HS không hứng thú với môn Lịch sử, không quan tâm môn Lịch sử và thậm chí là 20% tồn tại một số em ghét môn Lịch sử. Điều này thể hiện ở thái độ học tập của HS trong mỗi giờ Lịch sử. Trong quá trình dạy học, những HS thích học Lịch sử sẽ rất hăng hái tham gia đóng góp bài học, thái độ học tập tích cực, có niềm say mê với môn Lịch sử. Những em không quan tâm lắm đến môn Lịch sử thì hầu hết đều học miễn cưỡng, trong giờ học không chú ý hay còn làm việc riêng. Số còn lại ghét môn Lịch sử các em ấy sẽ có thái độ chống đối, không những không tập trung mà còn gây những hành động ảnh hưởng đến các bạn xung quanh và hiệu quả giờ học không được cao. Hầu hết GV đều nhận định đúng về tầm quan trọng của ghi nhớ trong việc học môn Lịch sử đối với HS (60%). Tuy nhiên khi được hỏi về mức độ sử dụng biện pháp để phát triển khả năng ghi nhớ của HS trong dạy và học môn Lịch sử thì chỉ có 60% GV thường xuyên có biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ cho HS, 20% mức độ thỉnh thoảng và 20% chưa sử dụng bao giờ. Hiện nay việc phát triển khả năng ghi nhớ của HS trong học Lịch sử vẫn chưa được phổ biến. Một số GV vẫn nghĩ rằng học Lịch sử học thuộc lòng là chính, cô giảng trò nghe và ghi chép là cách học truyền thống không có gì cần thay đổi. Quá trình dạy học truyền thống chỉ khiến HS ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Với khối lượng kiến thức đồ sộ của môn Lịch sử, việc ghi nhớ máy móc toàn bộ kiến thức chỉ khiến HS cảm thấy mệt mỏi, việc học tập Lịch sử trở nên nhàm chán, đó chính là nguyên nhân khiến HS không thích học Lịch sử. Vì vậy, GV cần có các biện pháp giúp HS phát triển kĩ năng ghi nhớ chủ động. Tuy nhiên việc làm này vẫn chưa được các thầy cô để ý và áp dụng. Các thầy cô chưa nhận thức đúng và chưa nhìn thấy sự khác biệt giữa HS được sử dụng biện pháp phát triển khả năng ghi nhớ thường xuyên với HS chưa bao giờ được sử dụng các biện pháp tăng khả năng ghi nhớ. Các em được sử dụng thường xuyên, kiến thức Lịch sử sẽ nắm rất vững. Các em có thể linh hoạt sử dụng các kiến thức, biến các kiến thức thầy cô truyền dạy thành của mình trong thời gian ngắn và rất lâu quên. So với HS chưa sử dụng bao giờ, các em sẽ bị động trong việc tiếp thu kiến thức và dễn dàng quên nhanh chóng. Về phía học sinh Tôi tiến hành điều tra ở 41 HS ở lớp 8 trường THCS Thị trấn Nham Biền số 2, kết quả thu được: Bảng 2: Kết quả điều tra về mức độ yêu thích học Lịch sử của học sinh Câu hỏi Em có thích học Lịch sử không? Thầy cô giáo có trong giờ dạy có khiến các em say mê môn Lịch sử không? Thích Bình Không Có Không thường thích Số lượng HS SL % SL % SL % SL % SL % 41 9 21,9 30 73,2 2 4,9 32 78,1 9 21,95 Nhìn vào bảng kết quả điều tra có thể thấy số lượng HS thích học Lịch sử chỉ chiếm 21,3% với số lượng 9 em trên tổng số 41 em. Hầu hết các em coi môn Lịch sử chỉ ở mức độ bình thường và không hứng thứ với môn học, khi số lượng các em thấy môn Lịch sử bình thường chiếm hơn 50% (cụ thể là 73,2%) và số còn lại là 4,9% với những em không thích môn Lịch sử. Khi được hỏi GV có khiến em say mê môn Lịch sử hay không thì hầu hết các em đều trả lời có chiếm 78,1% và số còn lại là 21,9%. Như vậy có thể thấy việc HS thích hay ghét hay chỉ coi môn Lịch sử là một môn phụ tùy thuộc vào tính chất của môn học, một phần là do chính bản thân các em hay bên cạnh đó là người GV có vận dụng tốt các biện pháp sư phạm để khiến các em say mê môn Lịch sử hơn không. Ở đây có thể thấy các GV đã sử dụng biện pháp sư phạm khá tốt khi gây hứng thú, say mê môn Lịch sử đk cho phần lớn HS (78,1%) vậy tại sao vẫn còn tồn tại những em coi môn Lịch sử chỉ là một môn học bình thường khi có nhiều em đã say mê môn học hơn nhờ sự truyền dạy của thầy cô giáo? Bảng 3: Kết quả điều tra về quan niệm, mức độ và khả năng ghi nhớ của HS Nội Theo em để học tốt môn Mức độ ghi nhớ các sự Em có nhớ tổ tiên dung Lịch sử thì kĩ năng nào quan kiện Lịch sử của em loài người xuất trọng nhất? như thế nào? hiện từ bao giờ không? Tự Ghi Thảo Cao Bình Thấp Có Không học nhớ luận thường nhóm SL % 5 12.2 30 73.2 6 14.6 0 38 92.7 3 7.3 32 78.1 9 21.9 Theo kết quả điều tra, 73.2% HS cho rằng, việc học tốt môn Lịch sử, kĩ năng ghi nhớ là vô cùng quan trọng, bên cạnh đó một số HS thiên về ý kiến tự học hay thảo luận nhóm cũng là những kĩ năng quan trọng để học tốt môn Lịch sử (26.8%). Khi khảo sát mức độ điều khả năng ghi nhớ, kết quả là không HS nào nhận mình có khả năng ghi nhớ cao hay mức độ tập trung ghi nhớ cao. Tuy nhiên, 92.7% HS tự nhận là mức độ ghi nhớ của mình ở mức trung bình và 7.3% HS lại nghĩ rằng trí nhớ của mình ở mức độ thấp. Việc mức độ hay khả năng ghi nhớ cao thuộc về năng lực ở mỗi em. Nhưng liệu các em đã sử dụng hết khả năng ghi nhớ của mình một cách tốt nhất, hay phát huy tối đa sự ghi nhớ của mình trong bài học đã tốt chưa? Khi được hỏi về nguồn gốc ra đời của loài người, cụ thể là thời điểm ra đời của tổ tiên loài người, có 78.1% HS nhớ được sự kiện nhưng vẫn tồn tại 21.9% HS không nhớ được mốc cơ bản đó. Đây là mốc thời gian bắt đầu của Lịch sử nhân loại, là kiến thức cơ bản nhất của môn Lịch sử. Vậy lí do nào khiến một số em không nhớ được các kiến thức bên cạnh những em nắm chắc kiến thức ấy? Việc HS không nhớ các kiến thức đã học hay những kiến thức cơ bản phụ thuộc vào khả năng ghi nhớ kiến thức của mỗi HS. Cách học hay cách tiếp thu kiến thức là nguyên nhân chính hình thành mức độ ghi nhớ của các em. Nếu không có những phương pháp học đúng đắn, hay cách tiếp thu kiến thức của HS chưa tốt sẽ dẫn đến việc các kiến thức trong trí óc không được ghi nhớ một cách cụ thể, dễ dàng quên các kiến thức ấy. Vậy việc hình thành và phát triển các kĩ năng ghi nhớ của HS vô cùng quan trọng, các kiến thức Lịch sử mà các em đã ghi nhớ một cách chắc chắn sẽ là cơ sở để các em tiếp thu các kiến thức mới, phát triển các kiến thức mới, khiến các kiến thức được tiếp thu thành kiến thức của bản thân một cách nhanh chóng. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1. Giáo viên Nguyên nhân trước hết ở ý thức chủ quan của GV. Một số ít GV vẫn có những nhìn nhận, đánh giá chưa đúng với vai trò, vị trí của môn Lịch sử trong nền giáo dục hiện nay. Môn Lịch sử ngoài cung cấp kiến thức còn góp phần quan trọng vào việc giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, truyền thống quý báu của dân tộc và rộng hơn là sự hiểu biết quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay. Thêm vào đó, trong kiểm tra đánh giá, yêu cầu của GV chủ yếu mới dừng lại kiểm tra việc ghi nhớ kiến thức của HS một cách máy móc. Điều đó khiến việc học tập của HS trở nên nặng nề dẫn đến HS không thích học Lịch sử. Yêu cầu đặt ra là GV cần tìm hiểu những phương pháp đúng đắn, đổi mới phương pháp trong dạy học để khiến HS say mê, hứng thú với môn Lịch sử hơn 2.2. Học sinh Bên cạnh nguyên nhân là GV, Môn Lịch sử chưa được HS thích thú là do chính bản thân HS. Các em cho rằng việc học môn Lịch sử rất khó. Bởi Lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ, không lặp lại ở hiện tại hay tương lai, mà kiến thức Lịch sử lại rất rộng. Vậy để có thể hiểu được khối lượng những sự kiện, hệ thống kiến thức khổng lồ như vậy là điều khó khăn đối với các em HS. Hiện nay, ngoài Lịch sử, các em còn phải tập trung học các môn tự nhiên và xã hội khác. Việc dành thời gian để học môn Lịch sử vốn đã ít nay lại càng bị thu hẹp. Chương trình dạy và học Lịch sử ở các cấp học, bậc học đã có sự cải tiến, song cách học, cách truyền đạt, hướng dẫn của GV và cách tiếp thu kiến thức của HS vẫn chưa thực sự thay đổi. Một trong những lí do quan trọng đó là HS chưa vận dụng tối đa khả năng ghi nhớ của mình trong môn học. Các GV chưa có phương pháp để kích thích tư duy, hướng dẫn HS ghi nhớ trong học tập. HS cho rằng, việc ghi nhớ Lịch sử là rất khó khăn. Các em chỉ nhớ được các ý chính của Lịch sử, nhưng để hiểu rộng, làm sâu sắc vấn đề Lịch sử hơn thì các em lại hoàn toàn không thể ghi nhớ. Tuy vậy, hầu hết các HS lại biết rằng ghi nhớ trong học môn Lịch sử là một trong những kỹ năng quan trọng nhất để có thể học tốt bộ môn này. Từ đó cho thấy vai trò của ghi nhớ trong dạy và học môn Lịch sử. Ngoài ra, cơ sở vật chất của hầu hết các trường còn nhiều hạn chế, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, thư viện trường không đủ tài liệu tham khảo, không đủ hệ thống tranh ảnh, bản đồ, sa bàn, hiện vật, Trong khi để dạy và học tốt môn Lịch sử cần vận dụng các loại đồ dung trực quan để kích thích não bộ, hình thành các biểu tượng, từ đó HS tự hình thành khái niệm, kiến thức cho riêng mình một cách tốt nhất. Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong dạy học, tuy nhiên, việc trang bị đầy đủ các trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ công việc tìm kiếm, tự nghiên cứu trong học tập còn rất kém. Bên cạnh những nguyên nhân kể trên, còn một số nguyên nhân khách quan như điều kiện kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến GV và HS khiến chất lượng dạy học các môn nói chung và môn Lịch sử nói riêng đạt hiệu quả chưa cao. II. Biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ kiến thức cho học sinh trong dạy học phần lịch sử 1. Biện pháp 1: Phát triển khả năng ghi nhớ thông qua sử dụng sơ đồ hoá kiến thức Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn. Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ tương hỗ giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn. Các nguyên tắc của sơ đồ tư duy Sự hình dung: Sơ đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để có thể hình dung kiến thức cần nhớ. Đây là một trong những kiến thức quan trọng của trí nhớ siêu đẳng. Đối với não bộ, sơ đồ tư duy như một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc phong phú, dễ hình dung các kiến thức xoay quanh những hình ảnh đời thường mà mỗi em HS được trải qua, tiếp xúc, đưa đến cho mỗi HS sự gần gũi, quen thuộc, dễ tiếp thu bài học hơn. Sự liên tưởng: Sơ đồ tư duy thể hiện sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng. Việc này cho phép các em HS thỏa sức sáng tạo, phát huy trí tưởng tưởng của mình trong bài học, biến các kiến thức chung thành các kiến thức của mình. Sự liên tưởng giúp kích thích tư duy sáng tạo ở mỗi HS, giúp các em vừa học được kiến thức song phát huy tối đa sức mạnh trí óc của mình. Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, sơ đồ tư duy cho phép làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh, đa dạng. Hơn nữa việc sơ đồ tư duy sử dụng nhiều màu sắc khiến các em HS phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình. Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, sơ đồ tư duy giúp các em tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ với những gì mà các em HS được học. Cấu trúc và các bước hình thành sơ đồ tư duy. Cấu trúc của sơ đồ tư duy bao gồm: ý kiến chính, tiêu đề, nhánh chính và các nhánh phụ. Các bước hình thành sơ đồ tư duy Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm. Tự do sử dụng các màu sắc mà mình thích. Không nên đóng khung hoặc che chắn các hình vẽ của chủ đề vì chủ đề cần nổi bật, dễ nhớ. Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ nếu chủ đề không rõ ràng. Bước 2: Vẽ nhánh chính. Các nhánh chính nên được vẽ bằng chữ in hoa, nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật, được vẽ gắn liền với trung tâm. Nhánh chính nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang để các nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng. Bước 3: Trong từng nhánh chính, vẽ thêm các ý và các chi tiết hỗ trợ. Quy tắc ở bước này là chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh,cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian. Mỗi người ai cũng có cách viết tắc riêng cho những từ thông .Mỗi em HS cần phát huy và sáng tạo thêm cho mình những từ viết tắt của riêng mình và các em hiểu được nghĩa qua những từ viết tắt đó. Mỗi từ khóa / hình ảnh nên viết trên một đoạn gấp khúc riêng, trên nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Việc này giúp cho việc từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách nối ra từ một khúc). Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm. Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Nên thay đổi màu sắc từ một ý chính ra các ý phụ cụ thể hơn. Bước 4: Ở bước cuối này, nên để trí tưởng tượng bay bổng, có thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của mình tốt hơn. 2. Ví dụ: Trong dạy học Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy, mục 2: “ Người tinh khôn và óc sáng tạo”, GV chia lớp thành 4 nhóm, chia các bảng phụ cho các nhóm kèm màu viết, giao mỗi nhóm 3 phút để hoàn thành sơ đồ tư duy, mỗi nhóm cử một thành viên lên diễn đạt ý của nhóm mình. Việc GV hướng dẫn HS vẽ sơ đồ tư duy sẽ tóm tắt được kiến thức bài học một cách nhanh chóng, các HS có thể vận dụng khả năng sáng tạo của mình vào bài học, gây hứng thú học môn Lịch sử ở mỗi em. 3. 4. Hình 1: Sơ đồ tư duy “Người tinh khôn và óc sáng tạo” 2. Biện pháp 2: Phát triển khả năng ghi nhớ thông qua làm việc nhóm Làm việc nhóm là phương pháp dạy học – giáo dục trong đó GV sắp xếp HS thành từng nhóm nhỏ, tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các em HS, mà theo đó các em HS sẽ trao đổi, giúp đỡ và phối hợp nhau trong việc học tập. Trong quá trình làm việc nhóm, chúng ta vừa phát triển những kỹ năng cá nhân, thu nạp những kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời góp phần vào các hoạt động đem lại những giá trị về vật chất và tinh thần cho tập thể, cộng đồng. Ngay từ xưa, ông bà ta cũng có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Làm việc nhóm có ý nghĩa trong việc phát huy cao độ vai trò của chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS được nâng cao. Đồng thời giúp hình thành kĩ năng xã hội cần thiết như hợp tác, tinh thần đồng đội,tình gắn kết. Thể hiện mối quan hệ bình đẳng dân chủ, khuyến khích HS giao tiếp với nhau tránh tự ti, nhút nhát. Các bước hình thành làm việc nhóm Bước 1: Xác định mục tiêu, câu hỏi cần thảo luận và nắm bắt khả năng học tập các em HS Bước 2: Chia nhóm theo mức độ khả năng học tập của các em. Tránh trường hợp một nhóm toàn e học lực khá giỏi hay một nhóm toàn em học lực yếu kém. Bước 3: Phân công công việc cho mỗi nhóm. Ở bước này cần giao công việc một cách ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, giải đáp thắc mắc cho HS nếu các em chưa hiểu nội dung cần làm. Bước 4: Quan sát, giúp đỡ các nhóm vận hành đúng hướng, duy trì mối quan hệ phụ thuộc. Can thiệp điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết. Bước 5: Các nhóm trình bày sản phẩm và thuyết minh sản phẩm hoàn thành, nhận xét đánh giá sản phẩm nhóm khác. Bước 6: GV nhận xét đánh giá sản phẩm của các nhóm, chốt lại các ý cơ bản của mỗi nhóm. Tổng hợp lại bài của các nhóm thành một bài hoàn chỉnh. Làm việc nhóm là một trong những hình thức giúp HS nhớ kiến thức do HS không chỉ nghe, nhìn mà còn trực tiếp tham gia hoàn thiện kiến thức, từ đó giúp các em hiểu sâu và nhớ kiến thức nhanh hơn. 3. Biện pháp 3: Phát triển khả năng ghi nhớ thông qua sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa. Kênh hình là một trong hai phần cấu tạo nên SGK. Khác với kênh chữ là những thông tin thành văn thì kênh hình bao gồm những ảnh chụp tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị. Theo chức năng hoặc mục đích sử dụng mà kênh hình được chia thành các loại: loại minh họa; loại vừa cung cấp thông tin vừa minh họa; loại dùng để rèn luyện các kĩ năng như thực hành, kiểm tra, đánh giá kiến thức. Việc khai thác và sử dụng các kênh hình có trong SGK giúp HS dễ dàng liên tưởng kiến thức môn học hơn. Bởi Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ, không thể trực tiếp quan sát các sự kiện ấy mà chỉ có thể thông qua tài liệu Lịch sử. Trong trí óc, tư duy của các em thì các kiến thức ấy vẫn còn khá mơ hồ thiếu tính chân thực. Song với tranh ảnh, các em có thể hình dung ra được sự kiện được diễn ra như thế nào, tranh ảnh sẽ giúp các em phát huy tối đa các kĩ năng như quan sát, so sánh, phân tích để từ đó kết hợp với những kiến thức của thầy cô giáo truyền đạt, tạo thành nội dung cơ bản nhất điển hình nhất của sự kiện Lịch sử Một số cách sử dụng kênh hình trong SGK Hướng dẫn HS khai thác kênh hình thông qua câu hỏi gợi mở. “Trong dạy học, GV cần nêu những câu hỏi gợi mở để thu hút HS, hướng HS vào quan sát, và tìm hiểu nội dung kênh hình. Câu hỏi nêu ra cần đảm bảo tính vừa sức với HS, hé mở dần nội dung kênh hình để cuối cùng các em tìm ra được phần kiến thức “chìm” trong đó” * Sử dụng kênh hình kết hợp với lời nói sinh động. Kênh hình có vai trò quan trọng trong việc gây hứng thú học tập cho HS, nó không chỉ là phương tiện dạy học mà còn là nguồn thông tin quan trọng để GV truyền tải kiến thức cho HS. Vì vậy trong quá trình dạy học GV không chỉ đơn thuần cho HS quan sát kênh hình mà phải kết hợp lời nói sinh động để HS dễ dàng hình dung, kết hợp tranh ảnh, tạo ra những biểu tượng Lịch sử, hình thành kiến thức và khái niệm riêng của mỗi HS. Ví d: Khi dạy bài 3 “Các quốc gia cổ đại phương Đông”, mục 3 “Văn hoá cổ đại phương Đông”, GV có thể miêu tả bức ảnh Kim Tự tháp Khêôp để giúp HS có được biểu tượng về một công trình kiến trúc được coi là kỳ quan của Thế giới. Trước khi miêu tả, GV cần giới thiệu với HS đây là hình ảnh Kim Tự tháp Ai Cập – một trong bảy kỳ quan của Thế giới cổ đại. Kim Tự tháp là lăng mộ của các vua Ai Cập, là nơi bắt đầu cuộc sống ở Thế giới bên kia của con người. Khi đã giới thiệu sơ qua về Kim Tự tháp, GV đưa ra một số câu hỏi: Em biết gì về Kim Tự tháp? Tại sao Kim Tự tháp lại được coi là một trong bảy kỳ quan Thế giới cổ đại? Sau khi HS trả lời, GV có thể miêu tả khái quát: “Kim Tự tháp Khêôp được xây dựng vào khoảng năm 1680 TCN. Công trình này được xây dựng trong 20 năm với sự lao động quên mình của khoảng 10 vạn dân gồm tù nhân, nô lệ và dân thường. Ban đầu Kim Tự tháp Khêôp cao 146 mét (tương đương với một toà nhà 50 tầng ngày nay), cạnh đáy dài 230 mét, thể tích 2.562.576 mét, trọng lượng ước tính 5.750.000 tấn (nặng bằng 8 ngôi tháp sắt lừng danh ở thủ đô Paris - Pháp). Người ta dùng 2.030.000 khối đá để xây, mỗi khối nặng từ 2 đến 16 tấn, được chở từ nhiều nơi khác nhau. Điều đáng ngạc nhiên là con người làm thế nào để vận chuyển những khối đá như vậy lên độ cao hàng trăm mét rồi lại đặt khít nhau đến mức mạch ghép giữa các khối đá chỉ cách nhau 5mm. Được tạo nên từ bàn tay tài hoa, óc sáng tạo nghệ thuật điêu luyện, trải qua những biến động thăng trầm của Lịch sử với chiều dài 4500 năm nhưng Kim Tự tháp Ai Cập vẫn đứng đó ngạo nghễ thách thức với thời gian. Vì vậy, người Ả Rập đã nói “Tất cả đều sợ thời gian nhưng thời gian sợ Kim Tự tháp”” Với việc miêu tả như vậy sẽ giúp HS hiểu rõ về Kim Tự tháp Ai Cập, một trong những thành tựu tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc phương Đông cổ đại. Kim Tự tháp là bằng chứng hùng hồn về sức sáng tạo của con người, về sự lao động, hy sinh xương máu của hàng vạn nô lệ và nhân dân Ai Cập. Qua đó, tác động sâu sắc đến tình cảm và nhận thức của HS, giúp các em hiểu rõ giá trị văn hoá, nghệ thuật của công trình này. Đó cũng chính là lý do khiến Kim Tự tháp Ai Cập được xếp vào một trong bảy kỳ quan của Thế giới cổ đại. * Sử dụng kênh hình kết hợp với dồ dung trực quan khác. Việc sử dụng đồ dung trực quan không còn xa lạ gì trong mỗi tiết học Lịch sử. Kênh hình trong SGK là một bộ phận của đồ dùng trực quan (thuộc loại đồ dùng trực quan tạo hình và quy ước). Sử dụng đơn lẻ một kênh hình chưa đủ để truyền tải kiến thức. Vì vậy, trong dạy học Lịch sử cần kết hợp sử dụng kênh hình với các loại đồ dùng trực quan khác (như tranh ảnh lịch sử, các đoạn phim tư liệu ) nhằm tái hiện một cách toàn diện bức tranh quá khứ, tạo cho HS biểu tượng lịch sử một cách sinh động nhất, giúp HS ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc, từ đó gây hứng thú học tập cho các em. Thông qua sử dụng kết hợp các loại đồ dùng trực quan sẽ góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển các kỹ năng thực hành bộ môn. Ví dụ: Khi dạy bài 10 “Thời kỳ hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở Tây Âu (Từ thế kỷ V đến thế kỷ XIV)”, mục 2 “Xã hội phong kiến Tây Âu”, GV sử dụng hình “Lâu đài và thành quách kiên cố của lãnh chúa” kết hợp với sử dụng bức tranh quang cảnh của lãnh địa phong kiến. Hình 2: Toàn cảnh lãnh địa phong kiến (nguồn: violet.vn) Khi đưa ra bức tranh này, GV nêu câu hỏi: “Quan sát bức tranh này em có nhận xét gì?”. Qua bức tranh có thể thấy lâu đài của lãnh chúa là một phần của lãnh địa phong kiến. Lãnh địa là một vùng đất rộng lớn bao gồm rừng núi, sông ngòi, gồm lâu đài lãnh chúa, nhà thờ, vùng đất trồng trọt, khu nhà của nông nô Đồng thời, GV giới thiệu một số hình ảnh về cảnh lao động của nông nô trong lãnh địa và hình ảnh về cuộc sống xa hoa của lãnh chúa kết hợp với sơ đồ: “Các giai cấp trong xã hội Tây Âu”. Từ đó các em sẽ hiểu được cuộc sống đối lập của nông nô và lãnh chúa, khiến ngày càng mâu thuẫn gay gắt, đó là nguyên nhân dẫn đến những cuộc khởi nghĩa nông nô bùng nổ. Các giai cấp trong xã hội Nông nô Lãnh chúa Là lực lượng sản xuất chính Sống nhàn rỗi, xa hoa dựa trong các lãnh địa, bị gắn chặt trên sự bóc lột nông nô vào ruộng đất và lệ thuộc vào lãnh chúa Nông nô mâu thuẫn với lãnh chúa => các cuộc khởi nghĩa nông nô Hình 3: Sơ đồ “Các giai cấp trong xã hội Tây Âu” Hay ở bài 11: “Tây Âu thời hậu kỳ trung đại”, mục 1 “Những cuộc phát kiến địa lý”, GV sử dụng “Lược đồ những cuộc phát kiến địa lý” trong SGK, hướng dẫn HS khai thác cuộc hành trình của những nhà thám hiểm. Với sự “giúp đỡ” của công nghệ thông tin, mỗi cuộc thám hiểm GV có thể sử dụng chân dung của các nhà thám hiểm như Điaxơ, Vát-cô-đơ Ga-ma, Cô-lôm-bô, Ma-gien-lăng, một vài hình ảnh về những nơi các nhà thám hiểm đã đặt chân đến để các em có được những biểu tượng cụ thể về các nhân vật, những vùng đất mới mà các nhà thám hiểm đã chinh phục được. Như vậy việc sử dụng và khai thác kênh hình trong SGK là một trong những cách giúp HS nắm bắt kiến thức nhanh nhất, hình thành kiến thức trong trí óc nhanh nhất. Với tranh ảnh, các em dễ hang mường tượng ra sự kiện Lịch sử một cách rõ ràng chân thực. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Để chứng minh tính hiệu quả của giải pháp tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở lớp 7a2 và lớp đối chứng 7a3 trường THCS TT Nham Biền số 2. Ở lớp thực nghiệm tôi tiến hành các biện pháp tăng khả năng ghi nhớ cho học sinh để có kết quả so với lớp đối chứng. Sau đó tôi tiến hành bài kiểm tra để kiểm tra mức độ ghi nhớ kiến thức của học sinh. Kết quả như sau: Số học Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu Lớp sinh (9 -10) (7 - 8) (5 - 6) (< 5) Thực nghiệm 7a2 11 37 (100%) 7 (19%) 23 (62,1%) 0 (0%) (18,9%) Đối chứng 7a3 37 (100%) 3 (8 %) 17 (46%) 17 (46%) 3 (6%) Như vậy những biện pháp áp dụng ban đầu đã thấy phù hợp và hiệu quả với học sinh, đưa tới kết quả học tập tốt hơn. PHẦN D. CAM KẾT Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực Yên Dũng, ngày 5 tháng 10 năm 2022 GIÁO VIÊN (ký và ghi rõ họ tên) Hoàng Thị Hồng PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ/ nhóm chuyên môn . TỔ/NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN (ký và ghi rõ họ tên) 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng . THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (ký và đóng dấu)
Tài liệu đính kèm: