Giáo án môn Ngữ văn 8 - Chuyên đề 3 - Kĩ năng đưa lí luận vào bài văn nghị Luận văn học

docx 15 trang Người đăng Sơ Ảnh Ngày đăng 19/03/2026 Lượt xem 6Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ văn 8 - Chuyên đề 3 - Kĩ năng đưa lí luận vào bài văn nghị Luận văn học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 KĨ NĂNG ĐƯA LÍ LUẬN
 VÀO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1. Tự trang bị những kiến thức về lí luận
 - Bản chất của văn chương.
 - Nội dung và hình thức của văn bản văn học.
 -Phong cách nhà văn.
 -Nhân vật trong tác phẩm văn học.
 -Tiếp nhận văn học.
 -Giọng điệu nghệ thuật.
 -Lời văn trong tác phẩm văn học.
 -Không gian nghệ thuật.
 -Thời gian nghệ thuật.
 -Hình tượng nghệ thuật.
 -Thiên chức của nhà văn.
 -Nhà văn – tác phẩm – bạn đọc.
 - Tác phẩm trữ tình và đặc điểm của tác phẩm trữ tình.
 -Chất thơ trong văn xuôi.
 -Đặc trưng của thơ, đặc trưng của truyện...
2. Kĩ năng đưa lí luận vào bài văn nghị luận văn học
2.1. Đưa lí luận vào phần mở bài
a. Một số yêu cầu của phần mở bài
– Một mở bài hay và tạo ấn tượng cần đáp ứng được những tiêu chí:
+ Đầy đủ: Nêu được vấn đề nghị luận, trích dẫn yêu cầu của đề bài.
+ Độc đáo: Sáng tạo mới mẻ, liên tưởng – tưởng tượng phong phú.
+ Tự nhiên: Ngôn từ giản dị, gần gũi.
+ Ngắn gọn: Ngắn nhưng đủ ý (dung lượng khoảng 10 – 12 dòng).
– Một vài điều cần tránh khi mở bài:
+ Tránh dẫn dắt, giới thiệu vòng vo không trúng vào vấn đề.
+ Tránh trình bày dài dòng mà không nêu được vấn đề nghị luận.
+ Tránh việc trình bày khiên cưỡng, gượng ép.
b. Cách viết đoạn mở bài
 Thông thường phần mở bài có hai cách viết: trực tiếp, gián tiếp. ❖ Mở bài trực tiếp
Hướng triển khai Giới thiệu trực tiếp vấn đề nghị luận (giới thiệu tác giả,
 tác phẩm, phong cách sáng tác, vị trí trên văn đàn,...).
Ưu điểm Đi thẳng vào vấn đề nghị luận.
 Tiết kiệm được thời gian.
Nhược điểm Không tạo được sự lôi cuốn đối với người đọc.
 ❖ Mở bài gián tiếp.
 – Dẫn dắt một ý kiến, nhận định có liên quan đến vấn đề cần nghị luận.
 – Tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn đối với người đọc.
  Trích dẫn ý kiến, nhận định.
  Ví dụ:
 Nhà nghiên cứu Pha-đê-ép từng nói: 
 “Văn xuôi cần phải có cánh.Đôi cánh ấy chính là thơ.”.
 Bằng trải nghiệm về văn học, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
 Nhà văn Tô Hoài có viết: “Ngay trong văn xuôi cũng cần phải 
 đượm hồn thơ, có như thế, văn xuôi mới trong sáng cất cao.”. Trên 
 cương vị là một nghệ sĩ tài ba, một người viết văn chân chính, người ấy 
 chắc hẳn phải có nhiều rung cảm sâu sắc với cuộc đời. Thế nên, trong văn 
 chương mới cần hồn thơ. Tương tự đối với văn xuôi, đó là sự giao thoa 
 mềm mại giữa cuộc sống khắc nghiệt và lí tưởng cao đẹp của người nghệ 
 sĩ. Và văn xuôi không được thiếu sự sáng tạo, đặc biệt là “thơ” của chính 
 mình. Vì thế, nhà nghiên cứu văn học Pha-đê-ép đã từng nói: “Văn xuôi 
 cần phải có cánh. Đôi cánh ấy chính là thơ”  Trích dẫn một đoạn thơ
  Ví dụ:
 M. Go-rơ-ki cho rằng: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ.”.
 Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm về văn học, hãy 
 làm sáng tỏ ý kiến trên.
 Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ, 
 Mới thu về một chữ mà thôi.
 Nhưng chữ ấy làm cho rung động, 
 Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.
 (Mai-a-cốp-xki)
 Thơ ca nói riêng cũng như văn chương nói chung đều bắt rễ từ hiện 
 thực đời sống và được xây dựng bằng vật liệu ngôn từ. Người nghệ sĩ phải 
 dùng bàn tay tài hoa và lăng kính nghệ thuật để biến ngôn ngữ vốn xô bồ, 
 phồn tạp của bể đời mênh mông kia thành bông hồng vàng. Bàn về vai trò của 
 ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, M. Go-rơ-ki cho rằng: “Yếu tố đầu tiên của 
 văn học là ngôn ngữ.”.
 Mở bài bằng câu chuyện.
 VD: Đề bài 1:Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghệ thuật phải 
bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống, nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.”.
 Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm về văn học, 
hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
 Thần thoại Hi Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực 
sĩ Ăng-tê và đất mẹ. Thần Ăng-tê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt 
vào lòng đất mẹ Gai-a. Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc 
sống hệt như quan hệ giữa Ăng-tê và đất mẹ vậy. Bởi vì lẽ đó mà cố Thủ tướng 
Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời 
sống, nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.”. Chưa tin ư, bạn hãy đến với những tác 
phẩm văn học lớn mà xem. Đề bài 2: Có ý kiến cho rằng: “Hình tượng nhân vật được sinh ra từ 
 tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc.”.
 Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích nhân vật ông Hai 
 trong truyện ngắn Làng của Kim Lân để làm sáng tỏ ý kiến.
 Tôi nhớ câu chuyện thần thoại xa xưa, Thần Trụ Trời lấy đất sét nặn ra 
con người và thổi hơi thở của mình vào những hình tượng vô tri để cho con 
người sự sống. Nhà văn phải chăng cũng là người thổi linh hồn mình vào trong 
hình tượng nhân vật để dù mang những phẩm chất đặc trưng, phổ quát của thế 
giới hiện thực, nó vẫn có một sức sống riêng, một cuộc đời cá biệt trong tâm trí 
của người đọc. Có lẽ vì vậy mà có ý kiến cho rằng: “Hình tượng nhân vật được 
sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm của người đọc.”.
  Đưa hiện thực cuộc sống vào văn chương
  Ví dụ:
 Đề bài: Lê Quý Đôn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong lòng người 
 ta.”, còn Ngô Thì Nhậm lại nhấn mạnh rằng: “Hãy xúc động hồn thơ cho 
 ngọn bút có thần.”.
 Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua 
 việc phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.
 Không biết từ bao giờ, thơ ca trở thành món ăn tinh thần không thể 
 thiếu đối với mỗi con người. Thế giới thơ là thế giới của những tâm hồn đồng 
 điệu, là lời thổn thức cất lên từ tâm hồn của thi sĩ. Một bài thơ hay không phải 
 là những xác chữ nằm thẳng trên trang giấy, mà là tiếng nhạc ngân lên thì 
 thầm từ khoảng trống giữa những dòng thơ, con chữ,... Để rồi từng giọt thơ 
 trong veo gieo xuống mặt hồ phẳng lặng của tâm hồn, để lại những vòng sóng 
 toả rộng và lan xa, đánh thức những thứ cảm xúc chân thành sâu kín nhất
trong lòng người. Có lẽ vì vậy mà Lê Quý Đôn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong 
lòng người ta.”, còn Ngô Thì Nhậm lại nhấn mạnh rằng: “Hãy xúc động hồn thơ 
cho ngọn bút có thần.”.  Đi từ thể loại
 Đề bài: “Thơ là... sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im 
lặng đó, chỉ những tiếng dội vang rất đa dạng và tinh tế.”.
 (Trích Bài nói chuyện về thơ của Tố Hữu, Lí luận văn học, Tập ba, 
 Trần Đình Sử, NXB Giáo dục Việt Nam, 1995)
 Em hiểu nhận định trên như thế nào? Bằng trải nghiệm về thơ, 
 hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
 Thơ ca – một nét đẹp được nâng niu, ôm ấp từ bàn tay của những thi 
 sĩ tạo ra để sẻ chia và sưởi ấm tâm hồn nhân loại. Thơ ca là nơi chất chứa 
 những tâm tư thầm kín và cũng là nơi bộc bạch nỗi lòng của thi nhân, 
 chúng trôi dạt vào bến bờ in hằn trên từng dòng chữ. Để làm được những 
 điều đó, nhà thơ phải vật lộn, mài giũa ngôn từ thật hàm súc mang nét thi vị 
 ngọt ngào và tinh tế. Khi chiêm ngưỡng được nét đẹp tĩnh lặng đó, ta sẽ 
 chìm vào một không gian êm ả, vang vọng những tình cảm sâu đậm của 
 tâm hồn thi nhân. Vì vậy, để điêu khắc nét độc đáo trong ngôn ngữ thơ ca, 
 “ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam” – Tố Hữu đã nhận 
 định: “Thơ là... sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng 
 đó, chỉ những tiếng dội vang rất đa dạng và tinh tế.”
  Đi từ chủ đề quen thuộc........
 2.2. Giải thích.
 a. Một số yêu cầu khi viết đoạn giải thích
 – Để có thể giải thích được từ khoá, hình ảnh của ý kiến, nhận định, 
người viết cần phải nắm vững được những khái niệm, thuật ngữ,... liên quan đến 
vấn đề lí luận văn học.
 – Cần đọc kĩ đề bài, tìm các ý chính và giải thích chính xác được các từ 
khoá, hình ảnh của ý kiến, nhận định.
 b. Các bước viết đoạn giải thích
 – Giải thích từng từ khoá, hình ảnh của ý kiến, nhận định. (Từ khoá, hình 
ảnh trong ý kiến, nhận định có nghĩa là gì? 
 – Rút ra ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận. (Vấn đề cần bàn luận là như thế 
nào?  Lưu ý: Trong đoạn giải thích của luận đề sẽ xảy ra hai trường hợp:
  Dạng đề bài đưa ra những khái niệm, thuật ngữ, hình ảnh quen thuộc, 
như: tình huống truyện, chi tiết, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tính hoạ... 
Đối với dạng này thì chỉ cần HS nhớ lại kiến thức đã được học và trình bày lại.
  Dạng đề bài đưa ra những khái niệm, thuật ngữ, hình ảnh mới lạ (có 
thể lần đầu mới biết đến khi tiếp xúc với đề bài), như: khoảnh khắc, khoảng 
lặng, lời trao gửi tâm tình, nền tảng chân lí,... Đối với dạng này đòi hỏi HS phải 
biết vận dụng khả năng cảm thụ về lí luận thì mới có thể trình bày được.
 VD Đề bài sau: Nguyễn Minh Châu khẳng định: “Dựng được một tình 
huống đặc sắc là vấn đề sống còn với người viết truyện ngắn.”.
 (Các nhà văn nói về tác phẩm, NXB Tác phẩm mới, 1985, trang 86) 
 Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích truyện ngắn Chiếc lược 
 ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng để làm sáng tỏ ý kiến trên, từ đó 
 liên hệ với tình huống truyện trong văn bản Lão Hạc của nhà
 văn Nam Cao.
 Với đề bài trên, người viết phải tiến hành các bước sau:
  Giải thích được các từ khoá: Tình huống, Vấn đề sống còn.
  Vấn đề cần bàn luận trên là như thế nào?
  Những từ khoá này có nghĩa là gì?
 – “Tình huống truyện” giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại. Nó 
chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến tại đó 
cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ đậm nét 
nhất.
 – “Vấn đề sống còn” là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cốt tử, quyết định tạo 
nên sự thành công của truyện ngắn.
  Vấn đề cần bàn luận là như thế nào?
 – Ý kiến của “người mở đường tinh anh và tài năng nhất của nền văn 
 học Việt Nam hiện đại” đã đề cập đến vai trò của nhà văn trong việc xây 
 dựng tình huống truyện – một sáng tạo quan trọng có tính chất quyết định 
 tới sự thành công của tác phẩm.
 2.3. Đưa vào phần cơ sở lí luận.
 – Vận dụng kiến thức lí luận văn học ở các phạm trù (nhà văn: cái tài, cái 
tâm; văn xuôi: hình tượng nhân vật, tình huống, chi tiết, chất thơ,...; thơ ca: 
ngôn ngữ, tính nhạc, tính hoạ,...) để lí giải về sự tác động qua lại giữa chúng.
 – Ở phần này, người viết cần phải đặt ra và trả lời các câu hỏi:
 + Nó bắt đầu từ đâu?
 + Nó sẽ ra sao? Ví dụ: Bàn về truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng: “Một 
 truyện ngắn hay vừa là chứng tích một thời, vừa là hiện thân của một chân 
 lí giản dị của thời đại.”.
 Em hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua việc 
 phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê 
 (Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018).
 Với đề bài trên, người viết phải tiến hành đặt ra và trả lời câu hỏi:
  Nó bắt đầu từ đâu? 
  Nó sẽ ra sao? 
 – Đặc trưng về đối tượng phản ánh của văn học nói chung, truyện ngắn 
 nói riêng là khám phá, miêu tả hiện thực cuộc sống, soi bóng thời đại và đặt ra 
 những vấn đề nhân sinh quan phong phú.
 – Đặc trưng của truyện ngắn: thể loại tự sự cỡ nhỏ, dung lượng ngắn, 
 thường chỉ kể về một tình huống đặc biệt của đời sống, với số lượng không 
 nhiều các nhân vật, tình tiết, chi tiết, qua đó gửi gắm những thông điệp tư 
 tưởng, tình cảm của tác giả.
 – Truyện ngắn hay phải là những tác phẩm kết tinh hài hoà hai giá trị:
 + “Là chứng tích của một thời”: tác phẩm phải phản ánh được bức 
 tranh sâu rộng về hiện thực thời đại, xây dựng được những chân dung nhân 
 vật vừa chân thực vừa điển hình của thời đại, đặt ra được những vấn đề cốt 
 lõi, quan trọng, bức thiết nhất đương thời. “Mỗi trang văn đều soi bóng thời 
 đại mà nó ra đời.” (Tô Hoài).
 + “Là hiện thân của một chân lí giản dị của mọi thời”: khi tác phẩm 
 chạm đến được chiều sâu của hiện thực, đặt ra được một hoặc nhiều vấn đề 
 tuy giản dị, bình thường nhưng là bản chất, cốt lõi, có tính quy luật. Khi đó, 
 tác phẩm là kết quả của sự gắn bó, trăn trở sâu sắc với thời đại với nhân sinh 
 và thực sự có giá trị, có sức sống lâu dài. Giá trị và sức sống ấy chỉ có được 
 khi tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao và khả năng khái quát, điển hình.
 2.4. Đưa vào phần hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
 a. Lí thuyết chung
 Tác phẩm văn học là sản phẩm của quá trình nhà văn ngụp lặn/ trầm mình 
vào bể đời nhân thế; là con đẻ của thời đại, cho nên nó mang những dấu ấn độc 
đáo trong phong cách sáng tác của nhà văn.
 Bất kì một tác phẩm văn học nào khi thoát thai khỏi hiện thực đời sống 
đều gắn với một khoảng thời gian cụ thể. b.Mẫu tham khảo
 Mẫu số 
 Những ngày tháng lao động của “phu chữ” trên cánh đồng chữ nghĩa chưa 
bao giờ là một công việc nhàn hạ. Để hạ sinh một đứa con tinh thần khôi ngô 
tuấn tú, người cha ấy đã phải lăn lộn với đời. Chính những ngày tháng...
 Mẫu số 
 Bể đời nhân thế kia là hiện thực rộng lớn mênh mông, nhà văn như chàng 
Sa-mét đi nhặt những hạt bụi quý mà đời vương vãi để đúc thành bông hồng 
vàng sáng chói. Chính những năm tháng...
 Mẫu số 
 Trong phút trải lòng về nghề “khổ hạnh”, nhà văn Nam Cao từng nói: 
“Hãy sống đã, rồi mới viết.”, còn với Chế Lan Viên thì lại cho rằng: “Hãy biết ơn 
vị muối của đời cho thơ chất mặn.”. Chính những ngày tháng...
 Mẫu số 
 Người phu chữ của những trang văn với lối trần thuật hóm hỉnh (Tô Hoài) 
đã quả quyết rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời.”. Dường 
như ý thức rõ về điều này, (ABC) trong những ngày tháng ngụp lặn trong bể đời 
ở (vùng đất/ chuyến đi/...) đã viết nên (ZYZ). Áng văn/ áng thơ đã dẫn ta tới...
 VD Đề bài: Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn 
 Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê.
 Người phu chữ của những trang văn với lối trần thuật hóm hỉnh đã quả 
 quyết rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời.”. Dường như 
 ý thức rõ về điều này, nhà văn Lê Minh Khuê trong những ngày tháng là 
 thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đã viết nên Những ngôi 
 sao xa xôi. Áng văn đã dẫn ta tới hiện thực khốc liệt của chiến trường miền 
 Nam, đồng thời cho chúng ta thấy được vẻ đẹp về lí tưởng sống của thế hệ trẻ 
 Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Truyện Những 
 ngôi sao xa xôi là một trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê,
 đươc̣ viết năm 1971. Văn bản đưa vào sách giáo khoa có lược bớt một số
 đoạn. Truyện ngắn được đưa vào tuyển tập Nghệ thuật truyện ngắn thế giới
 và xuất bản ở Mĩ năm 2005.
 2.5. Đưa vào phần viết luận điểm
 2.5.1. Dạng đề bài cho sẵn luận điểm và gắn với đoạn trích, tác phẩm
  Ví dụ:
 Bàn về lao động nghệ thuật, nhà văn Mác-xen Prút cho rằng: “Một 
 cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà là cần 
 một đôi mắt mới.”.
 Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để làm sáng tỏ ý kiến trên.
  Sau khi đọc đề, chúng ta xác định được đề bài bàn về quá trình lao 
 động và sự sáng tạo của nhà văn.
  Căn cứ vào đề bài, chúng ta xác định được đề này có hai luận điểm.
 – Một cuộc thám hiểm thực sự.
 – Cuộc thám hiểm thực sự không cần một vùng đất mới mà cần một đôi 
 mắt mới.
 GỢI Ý VIẾT LUẬN ĐIỂM BẰNG LÍ LUẬN
 – Lao động nghệ thuật không phải là một thứ nghề chơi, mà nó là một 
 nghề “khổ hạnh”. Hiện thực ngoài kia là những bộn bề, phồn tạp, xô bồ; cho 
 nên đòi hỏi người nghệ sĩ phải thật sự nghiêm túc cho “cuộc thám hiểm” của 
 mình, khi đó anh mới có thể đầy bản lĩnh để sáng tác nên tác phẩm có giá trị. 
 Bài thơ về tiểu đội xe không kính là đề tài về người lính và chiến tranh – vùng 
 đất quen thuộc với nhiều văn nghệ sĩ thời bấy giờ, nhưng với Phạm Tiến Duật 
 thì nó lại được thể hiện một cách nhìn mới, một đôi mắt mới.
 – Mác-xen Prút cũng từng nói: “Sự lặp lại trong văn học là cái chết.”, 
 hiểu được lời khuyên sâu sắc này, cho nên trong “cuộc thám hiểm” đến vùng 
 đất quen thuộc, nhưng “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại” đã có 
 những sáng tạo mang dấu ấn nghệ thuật riêng.
 Bàn về thơ, nhà phê bình Hoàng Minh Châu khẳng định: “Thơ 
 khởi sự từ tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tấm lòng 
 người viết.”.
 Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm về việc 
 đọc thơ, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua những đoạn trích, tác phẩm mà 
 anh (chị) đã được học trong chương trình Ngữ văn 9.
  Sau khi đọc đề, chúng ta xác định được đề bài này nằm ở tiểu vùng 
 khu biệt trong địa hạt của thơ.
  Căn cứ vào đề bài, chúng ta xác định được đề này có ba luận điểm:
 – Thơ khởi sự từ tâm hồn.
 – Thơ vượt lên bằng tầm nhìn.
 – Thơ đọng lại nhờ tấm lòng người viết.
 2.5.2. Dạng đề không cho sẵn luận điểm (đây là dạng đề khó thường có 
 trong đề thi quốc gia) 
  Với dạng đề không cho luận điểm, đề chỉ gợi ra vấn đề bàn luận qua 
một số từ khoá, hình ảnh thì người viết cần phải xâu chuỗi các tiểu ý lại với 
nhau, để từ đó tìm ra các luận điểm cho bài viết. 2.6. Đưa vào phần chứng minh
 2.6.1. Đưa vào phần phân tích thơ
 2.6.2 .Đưa vào phần phân tích tác phẩm văn xuôi
 2.7 Đưa vào phần khẳng định và nâng cao vấn đề.
 – Đừng vội vàng kết bài khi giải quyết xong vấn đề, mà hãy dừng lại để 
khẳng định vấn đề.
 – Đối với đoạn văn này, người viết có thể viết về phong cách của nhà 
văn, sinh mệnh của văn chương,
 – Khẳng định lại vấn đề, tài năng của người cầm bút, vai trò của người 
tiếp nhận tác phẩm...
 2.8. Đưa lí luận vào phần kết bài
 – Để có một kết bài mang sức lôi cuốn đối với người chấm; tạo dư vị, dư 
vang trong lòng người đọc, HS có thể vận dụng các kiến thức về lí luận để chốt 
lại vấn đề.
 – Tuỳ vào mục đích nghị luận, người viết có thể sử dụng một trong các 
cách kết bài sau đây:
 a. Kết bài bằng cách tóm lược
 – Tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài. b. Kết bài bằng cách mở rộng và nâng cao
Người viết dưạ và nâng cao vấn đề.trên cơ sở quan điểm chính của bài viết bằng sự 
mở rộng. Với cách kết bài này, HS cần phải đưa những nhận định, lời bài hát,... 
vào đoạn kết bài
 VD “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu 
 mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn 
 muốn nói một điều gì mới mẻ.”.
 (Trích Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9,
 Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, trang 12, 13) 
 Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích truyện
 Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long (Ngữ văn 9, Tập một) để làm rõ
 “điều mới mẻ trong việc khám phá vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam”.
 Văn nghệ được ví như chiếc cầu nối từ trái tim đến với trái tim trên 
 hành trình dài và rộng của cuộc đời. Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn 
 người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang 
 trong lòng. Chính vì vậy mà khi bước vào làng văn, mỗi người nghệ sĩ đều 
 muốn “nói một điều gì mới mẻ”. Để tạo ra cái mới, người nghệ sĩ cần có tài 
 năng, có năng khiếu bẩm sinh để phát huy cái riêng của mình. Cũng để tạo ra 
 sự mới lạ, nhà văn không thể xem sáng tác như một thứ nghề chơi mà cần có 
 sự khổ luyện, có sự đào sâu, tìm tòi. Tiếng nói của văn nghệ là tiếng nói của 
 tâm hồn, tình cảm cá nhân của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Nhà văn sáng 
 tạo tác phẩm văn học khi cảm thấy bức xúc trước cuộc sống của con người, 
 cảm thấy có sự thôi thúc mãnh liệt của con tim. Vì vậy, không phải vô cớ mà 
 Lê Quý Đôn cho rằng “Thơ khởi phát từ trong lòng người.”. Một nhà văn 
 nước ngoài có nói, đại ý: Trong văn chương có những niềm hạnh phúc trong 
 nỗi đau khổ tột cùng mà chỉ người nghệ sĩ mới hiểu được. Sáng tạo ra cái mới 
 chính là kết quả của sự công phu và tài năng, nó tạo sức mạnh cho người nghệ 
 sĩ chiến thắng được quy luật băng hoại của thời gian.
IV. LƯU Ý
 – Không được đưa lí luận quá nhiều vào một bài văn, nếu đưa quá nhiều 
lí luận bài văn sẽ trở thành kiểu khoe chữ.
 – Ngược lại, nếu bài văn không có lí luận, chỉ toàn cảm xúc thì bài văn sẽ 
trở nên khô khan, sáo rỗng. Vì vậy, nên đưa lí luận văn học kết hợp với cảm xúc 
hài hoà để đạt được hiệu quả.
 – Đưa lí luận vào bài văn phải hiểu bản chất lí luận đó, áp dụng đúng 
từng trường hợp phân tích. Ví dụ: không thể đưa lí thuyết về thơ vào phân tích văn xuôi, và không có khả năng áp dụng thì không nên áp dụng, vì lí luận văn 
học là con dao hai lưỡi. 15

Tài liệu đính kèm:

  • docxgiao_an_mon_ngu_van_8_chuyen_de_3_ki_nang_dua_li_luan_vao_ba.docx