Bài giảng Giáo dục công dân 8 - Bài 7: Phòng chống bạo lực gia đình

docx 14 trang Người đăng Sơ Ảnh Ngày đăng 19/03/2026 Lượt xem 3Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Giáo dục công dân 8 - Bài 7: Phòng chống bạo lực gia đình", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 BÀI 7. PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM CỦA BÀI
1. Khái niệm: 
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình, gây tổn hại 
hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các 
thành viên khác trong gia đình.
2. Bạo lực gia đình thể hiện dưới những hình thức phổ biến như 
sau:
- Bạo lực về thề chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập làm tổn thương 
tới sức khoẻ, tính mạng của thành viên gia đình.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn 
thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lí của thành viên gia đình.
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế 
của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động,...).
- Bạo lực về tình dục: là hành vi mang tính chất cưỡng ép trong các 
quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kè cả việc cưỡng ép sinh 
con.
3. Hậu quả:
- Bạo lực gia đình ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình và trật tự xã 
hội. 
- Bạo lực gia đình gây ra những hậu quả nghiêm trọng về thể xác và 
tinh thần đối với người bị bạo lực, thậm chí gây tử vong.
- Bạo lực gia đình đã chất thêm gánh nặng cho hệ thống giáo dục. 
- Bạo lực gia đình còn chất thêm gánh nặng lên vai các cơ quan tư 
pháp.
4. Nguyên nhân của bạo lực gia đình
- Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình do các tệ nạn xã hội mà người 
chồng hoặc vợ mắc phải, như nghiện rượu, sa vào cờ bạc, kinh tế khó 
khăn, người chồng có tính gia trưởng, mất vị trí trụ cột trong gia đình, 
con cái vi phạm pháp luật (chiếm 63,7%)
 - Sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả vợ chồng và các con, do trình độ 
học vấn thấp. Do không hiểu biết pháp luật, thiếu hiểu biết về bình đẳng giới, mang nặng tư tưởng về định kiến giới, tất yếu dẫn đến bạo lực gia 
đình (đây là nguyên nhân gốc rễ sâu xa của vấn đề ).
 - Đời sống vợ chồng không được thoả mãn về tình dục thường dẫn 
đến sự phản bội trong tình yêu và hôn nhân, ngoại tình, dẫn đến gia 
đình tan vỡ.
 - Việc thực thi pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả 
chưa cao. Những nạn nhân của bạo lực gia đình (chủ yếu là người phụ 
nữ - người vợ) có thái độ cam chịu, không muốn tố cáo, không 
muốn “vạch áo cho người xem lưng”. Xem đây là chuyện của riêng gia 
đình chứ không phải chuyện của xã hội.
 - Hiện nay hình phạt còn quá nhẹ, không tương xứng với hậu quả mà 
nó gây ra, tính phòng ngừa răn đe còn hết sức hạn chế.
5. Một số quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Việc phòng, chống bạo lực gia đình được Nhà nước quy định trong 
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và một số văn bản luật khác (Hiến 
pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, 
Luật Trẻ em hiện hành,...), Bao gồm:
1. Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay 
hành vi bạo lực.
2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân 
bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
4. Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu 
cầu và theo quy định của pháp luật.
6. Cách phòng, chống bạo lực gia đình:
Cách phòng, chống bạo lực gia đình:
- Để phòng tránh bạo lực gia đình:
+ Tôn trọng, bình đẳng, chia sẻ, yêu thương các thành viên trong gia 
đình.
+ Kiềm chế cảm xúc tiêu cực. 
+ Rời khỏi nơi có nguy cơ xảy ra bạo lực gia đình.
+ Nói vơi người đáng tin cậy đề nhờ can thiệp. 
 + Không nên dùng lời nói, thái độ tiêu cực đề tỏ thái độ thách thức, 
nhờ người khác can thiệp bằng cách thức tiêu cực. - Khi xảy ra bạo lực gia đình: 
+ Cần bình tĩnh, kiềm chế cảm xúc, tìm đường thoát, chủ động nhờ 
người giúp đỡ. 
+Không nên dùng lời nói, thái độ tiêu cực hoặc sử dụng hành vi bạo 
lực để đáp trả.
- Để xử lí hậu quả của bạo lực gia đình: 
+ Nên thông báo sự việc với người thân, nhũng người đáng tin cậy.
+ nhờ sự trợ giúp từ bệnh viện, cơ sở tư vấn tâm lí, tổ hoà giải.
+ Không nên: giấu giếm, bao che cho đối phương, tự tìm cách giải 
quyết bằng những biện pháp tiêu cực.
- Cần phê phán, đấu tranh chống những hành vi bạo lực trong gia đình 
và cộng đồng.
II. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP BỒI DƯỠNG
 Câu 1. Em hãy tranh biện với các bạn để bày tỏ thái độ trước quan 
 niệm: "Chuyện nhà, đóng cửa bảo nhau" khi xảy ra các hành vi 
 bạo lực gia đình.
Em không đồng tình hoàn toàn với quan niệm: " "Chuyện nhà, đóng 
cửa bảo " khi xảy ra các hành vi bạo lực gia đình. Bởi vì, nếu là những 
hành vi bạo lực gia đình không nghiêm trọng thì có thể bỏ qua, hoặc 
hành vi bạo lực gia đình này chỉ xảy ra một đến hai lần. Nếu hành vi 
bạo lực gia đình xảy ra quá hoặc đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra với tần 
suất liên tục thì nên báo với cơ quan, chức năng.
 Câu 2. Theo em nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình là gì?
Nguyên nhân của bạo lực gia đình.
- Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình do các tệ nạn xã hội mà người 
chồng hoặc vợ mắc phải, như nghiện rượu, sa vào cờ bạc, kinh tế khó 
khăn, người chồng có tính gia trưởng, mất vị trí trụ cột trong gia đình, 
con cái vi phạm pháp luật (chiếm 63,7%)
- Sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả vợ chồng và các con, do trình độ 
học vấn thấp. Do không hiểu biết pháp luật, thiếu hiểu biết về bình đẳng 
giới, mang nặng tư tưởng về định kiến giới, tất yếu dẫn đến bạo lực gia 
đình (đây là nguyên nhân gốc rễ sâu xa của vấn đề ). - Đời sống vợ chồng không được thoả mãn về tình dục thường dẫn đến 
sự phản bội trong tình yêu và hôn nhân, ngoại tình, dẫn đến gia đình 
tan vỡ.
- Việc thực thi pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả 
chưa cao. Những nạn nhân của bạo lực gia đình (chủ yếu là người phụ 
nữ – người vợ) có thái độ cam chịu, không muốn tố cáo, không 
muốn “vạch áo cho người xem lưng”. Xem đây là chuyện của riêng gia 
đình chứ không phải chuyện của xã hội.
- Hiện nay hình phạt còn quá nhẹ, không tương xứng với hậu quả mà 
nó gây ra, tính phòng ngừa răn đe còn hết sức hạn chế.
 Câu 3. Nêu các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân của bạo 
 lực gia đình?
 Các biện pháp ngăn chặn, bảo vê cho nạn nhân của bạo lực gia 
đình sẽ được áp dụng kịp thời, nhằm chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, 
giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra, bao gồm:
- Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;
- Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình;
- Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi 
phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có 
hành vi bạo lực gia đình;
 - Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử 
dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo 
lực với nạn nhân (sau đây gọi là biện pháp cấm tiếp xúc).
 Câu 4. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành 
 vi bạo lực gia đình như thế nào?
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực 
bao gồm:
– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến 
sức khoẻ, tính mạng;
– Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
– Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả 
nghiêm trọng; – Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa 
ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, 
em với nhau;
– Cưỡng ép quan hệ tình dục;
– Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự 
nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư 
hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản 
chung của các thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính 
quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình 
nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
 Câu 5. Trách nhiệm của các thành viên gia đình trong phòng chống 
 bạo lực gia đình ?
 Theo quy định tại Điều 11 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 
năm 2022 về trách nhiệm của thành viên gia đình trong phòng, chống 
bạo lực gia đình gồm: 
- Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp 
luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng 
giới và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; yêu cầu 
người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt ngay hành vi bạo lực; tham 
gia chăm sóc người bị bạo lực gia đình. 
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trong 
phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thực hiện các biện pháp trong phòng, chống bạo lực gia đình theo 
quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và quy định khác của 
pháp luật có liên quan.
 Câu 6. Tình huống 3. Có một số ý kiến cho rằng có 04 loại hành vi 
 về bạo lực gia đình gồm bạo lực tình dục bạo lực tinh thần bạo lực 
 thể chất và bạo lực kinh tế? Vậy xin hỏi cách hiểu cụ thể về mỗi loại 
 hành vi bạo lực này được hiểu như thế nào? Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo 
lực gia đình có thể coi là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với nhiều 
dạng khác nhau. Bạo lực gia đình là một dạng của bạo lực xã hội.
 Theo Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì bạo lực gia đình 
là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng 
gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên 
khác trong gia đình.
Như vậy, cách hiểu về bạo lực gia đình gồm 04 dạng nêu trên là hoàn 
toàn chính xác. Có thể nhận diện bạo lực gia đình ở những hình thức 
chủ yếu sau:
 - Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia 
đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương 
tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình.
 - Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế 
của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động ).
 - Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép 
trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc 
cưỡng ép sinh con.
 Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác 
nhau. Bạo lực gia đình đã được Luật hóa nên có được xem như một tệ 
nạn trong xã hội. Tuy nhiên những năm qua, bạo lực gia đình có sự phát 
triển phức tạp trong một xã hội hiện đại tạo nên những vấn đề nhức 
nhối, đau lòng trong xã hội. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, vậy 
nên mỗi gia đình cần xây dựng và duy trì hạnh phúc để góp phần tạo 
nên một xã hội phát triển.
 Câu 7. Tình huống 4. Anh Nguyễn Văn T lấy chị H sinh được 3 người 
 con gái liên tiếp. Mãi đến khi chị H hơn 40 tuổi mới sinh được một 
 đứa con trai nên anh T rất yêu chiều đứa con trai út. Từ khi sinh được 
 con trai, đối với 03 cô con gái, anh T thường xuyên bỏ mặc, không 
 quan tâm mà còn thường xuyên nói là lũ vịt trời, “bé thì ăn hại, lớn 
 thì bay đi”... rồi không chăm sóc, cho các con ăn học đầy đủ. Mặc 
 cho vợ thường xuyên khuyên bảo hành vi của anh là vi phạm pháp 
 luật, có yếu tố bạo lực gia đình. Ý kiến này đúng hay không? Hành vi của anh T là hành vi bạo lực gia đình về tinh thần. Vì theo điểm 
d và đ khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 
có các hành vi bao gồm:
- Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia 
đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng 
tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự 
chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;
- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành 
viên gia đình.
 Câu 8. Tình huống: Sau 05 năm lấy nhau, do anh P có tính trăng hoa, 
 thường xuyên bồ bịch lại keo kiệt, bủn xỉn nên chị G làm đơn ly hôn. 
 Mặc dù chị có mong muốn được nuôi cả 02 con song Tòa án lại xử 
 anh P được nuôi con trai út. Song từ khi ly hôn được gần 01 năm nay, 
 anh P cố tình ngăn cản không cho chị G đến thăm nuôi con, cũng như 
 không nhận đồ chơi, quần áo chị mua gửi tặng cho con trai mình... 
 Xin hỏi hành vi của anh P có vi phạm pháp luật hay không?
Gợi ý trả lời
Hành vi của anh P vi phạm điểm e và g khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, 
chống bạo lực gia đình năm 2022đã quy định rõ hành vi bạo lực gia 
đình gồm:
- Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội 
hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường 
xuyên về tâm lý;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa 
ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, 
em với nhau.
 Câu 9. Tình huống: Để giải quyết vấn nạn bạo lực gia đình hướng 
 tới xây dựng gia đình no ấm bình đẳng và hạnh phúc thì pháp luật về 
 phòng chống bạo lực gia đình đã hoàn thiện thể chế về công tác 
 phòngchống bạo lực gia đình theo hướng tăng cường các biện pháp 
 bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của nạn nhân bạo lực gia 
 đình. Vậy xin hỏi nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình được pháp 
 luật quy định như thế nào?
Gợi ý trả lời Theo Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 vềnguyên 
tắc phòng, chống bạo lực gia đình như sau:
- Phòng ngừa là chính, lấy người bị bạo lực gia đình là trung tâm.
- Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có liên quan; 
bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em; ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp 
pháp của người bị bạo lực gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang 
nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người 
không có khả năng tự chăm sóc; thực hiện bình đẳng giới.
- Chú trọng hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, hòa giải trong 
phòng, chống bạo lực gia đình.
- Hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình phải 
được kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm theo quy định của 
pháp luật. Trường hợp người bị bạo lực gia đình là trẻ em thì trong quá 
trình xử lý phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước 
về trẻ em hoặc người được giao làm công tác bảo vệ trẻ em.
- Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu; chú 
trọng phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng.
- Thực hiện trách nhiệm nêu gương trong phòng, chống bạo lực gia 
đình đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ 
trang nhân dân.
Câu 10. Người bị bạo lực gia đình có các quyền như thế nào? 
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, 
người bị bạo lực gia đình có các quyền sau: 
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, 
tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác có 
liên quan đến hành vi bạo lực gia đình; 
b) Yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn 
chặn, bảo vệ, hỗ trợ theo quy định của Luật này; 
c) Được bố trí nơi tạm lánh, giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin 
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình theo quy định 
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; 
d) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và dịch 
vụ trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật; 
đ) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình khắc phục hậu quả, bồi 
thường tổn hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và thiệt hại về tài 
sản; 
e) Được thông tin về quyền và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình, xử lý hành 
vi bạo lực gia đình; 
g) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về 
phòng, chống bạo lực gia đình; 
h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến phòng, 
chống bạo lực gia đình. 
 Câu 11. Pháp luật quy định về trách nhiệm của người có hành vi 
 bạo lực gia đình như thế nào? 
 Trả lời:
Theo Khoản 1 Điều 10 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 
2022, người có hành vi bạo lực gia đình có trách nhiệm sau đây:
a) Chấm dứt hành vi bạo lực gia đình;
 b) Chấp hành yêu cầu, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có 
thẩm quyền khi áp dụng biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ 
trợ và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;
 c) Kịp thời đưa người bị bạo lực gia đình đi cấp cứu, điều trị. Chăm 
sóc người bị bạo lực gia đình, trừ trường hợp người bị bạo lực gia 
đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị 
bạo lực gia đình từ chối; 
d) Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra cho người 
bị bạo lực gia đình, người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình và 
tổ chức, cá nhân khác. 
 Câu 12. Tình huống: Do nghi ngờ vợ ngoại tình với một đồng nghiệp 
 ở cơ quan trong những lần hai vợ chồng cãi nhau anh A thường nói 
 to cho bà con xung quan nghe thấy. Không chịu nổi cách hành xử của 
 chồngnvợ anh đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân anh A còn viết thư 
 nặc danh gửi đến cơ quan vợ photo phát tán thư ở khu dân cư nơi vợ 
 chồng anh cư trú nhằm hạ thấp danh dự nhân phẩm của chị. Hành vi 
 nêu trên của anh A có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Sẽ bị 
 pháp luật xử lý như thế nào?
 Gợi ý:
Hành vi nói xấu vợ với những người xung quanh, phát tờ rơi nói xấu 
bôi nhọ danh dự vợ của anh A là hành vi cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình được quy định tại điểm b khoản 1 Điểu 2 Luật 
Phòng chống bạo lực gia đình.
Hành vi này bị xử phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo 
quy định tại điểm a, b khoản 2. Điều 11 Nghị định 110/2009/NĐ–CP. 
Ngoài ra, anh còn bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang 
vật, phương tiện vi phạm là các tờ rơi có nội dung nói xấu vợ và buộc 
phải công khai xin lỗi vợ.
 Câu 13. Tình huống: Sau khi ly hôn chị H được quyền nuôi 2 con 
 nhỏ còn anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho các 
 con theo quyết định của Toà án. Tuy nhiên nhiều tháng qua anh T 
 không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mặc dù chị H đã nhiều lần yêu 
 cầu. Vậy hành vi của anh T có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi 
 phạm thì bị xử lý như thế nào?
Anh T không chịu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con theo quyết 
định của Toà án là hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo 
quy định tại Điều 14 của Nghị định 110/2009/NĐ-CP thì đây còn là 
hành vi bạo lực gia đình. Hành vi này bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt 
tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
 Câu 14. Tình huống: Ông V là người mang nặng tư tưởng gia trưởng 
 luôn quản lý chặt chẽ nguồn tài chính của gia đình. Mọi chi tiêu của 
 vợ và con cái đều do ông quyết định và hạn chế tối đa. Nhà có xe đạp 
 nhưng con đi học cách nhà 5km ông không cho sử dụng xe đạp. Ông 
 quản lý chặt chẽ tiền bạc buộc vợ và các con phải phụ thuộc vào mình 
 về tiền bạc và tài sản để khẳng định quyền gia trưởng của mình. Hành 
 vi của ông V có vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình 
 hay không? Nếu vi phạm thì bị xử phạt như thế nào?
Hành vi của ông V vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia 
đình tại điểm a, b khoản 1 Điều 16 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP:
Không cho thành viên trong gia đình sử dụng tài sản chung vào mục 
đích chính đáng (không cho con dùng xe đạp đến trường).
Kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của thành viên trong gia đình hoặc 
nguồn tài sản chính chung của gia đình tạo ra cho thành viên sự phụ 
thuộc về tài chính (quản lý chặt chẽ tiền bạc, buộc vợ và các con phải 
phụ thuộc vào mình).
Theo điểm a và b khoản 1, Điều 16 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP, ông 
V sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000đ đến 1.000.000đ vì có 
2 hành vi bạo lực về kinh tế đối với thành viên gia đình. Câu 15. Tình huống. Ông Đ có hành vi bạo lực gia đình đối với vợ 
 của ông là bà K và đã bị Chủ tịch UBND xã nơi vợ chồng ông sinh 
 sống ra quyết định cấm tiếp xúc. Trong thời gian áp dụng quyết định 
 cấm tiếp xúc của Chủ tịch UBND xã con gái của vợ chồng ông bị 
 bệnh nặng và đang được điều trị tại bệnh viện. Trong trường hợp này 
 ông Đ có được tiếp xúc với vợ của ông không?
 Theo khoản 4 Điều 20 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 
2007, trong trường hợp gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các 
trường hợp đặc biệt khác mà người có hành vi bạo lực gia đình và nạn 
nhân bạo lực gia đình phải tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo 
lực gia đình phải báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư 
trú của nạn nhân bạo lực gia đình.
 Cùng với đó, Khoản 6 Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CPcủa 
Chính phủ quy định: các trường hợp đặc biệt mà người có hành vi bạo 
lực gia đình được tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình, sau khi báo 
cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo 
lực gia đình, bao gồm: gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi; gia đình có 
người bị tai nạn, bệnh nặng; tài sản của gia đình bị thiệt hại nặng do 
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; những trường hợp khác mà phải tiếp xúc 
theo phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương.
 Như vậy, đối chiếu với trường hợp nêu trên, do con gái của vợ 
chồng ông Đ bị bệnh nặng nên theo quy định, ông được tiếp xúc với vợ 
của ông sau khi báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi vợ 
ông cư trú.
 Câu 16. Biết nhà hàng xóm người vợ thường xuyên bị chồng đánh 
 nên chị A hay giúp đỡ bảo vệ và hỗ trợ chị vợ khi họ cần. Chồng chị 
 A không hài lòng về việc làm của vợ cho rằng vợ bao đồng tự dưng 
 “dây dưa” vào việc không phải của mình. Xin hỏi ý kiến của chồng 
 chị A đúng hay sai? 
Ý kiến của chồng chị A là sai vì theo quy định của Luật Phòng, chống 
gia đình năm 2022, cá nhân khi phát hiện hành vi bạo lực gia đình có 
trách nhiệm sau đây: 
a) Báo tin, tố giác ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền 
quyđịnh; b) Tham gia bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình và các hoạt động 
phòng, chống bạo lực gia đình ở cộng đồng. 
 Câu 17. Tình huống: Gia đình ông H có hai con: một trai, một gái. 
 Ồng H thường chăm sóc và quan tâm đến người con gái hơn con trai. 
 Thấy vậy, người con trai rất buồn và cho rằng bố không công bằng. 
 Tuy nhiên, người con trai luôn tự trấn an bản thân: “Mình là con 
 trai nên phải cố gắng!”, ông H nghĩ việc quý mến con gái hơn con 
 trai là chuyện bình thường, thậm chí phân chia tài sản thừa kế như 
 thế nào là quyền của mình.
 1/ Cách cư xử của ông H có đúng với quy định của Luật hôn nhân và 
 gia đình năm 2014 không? Vì sao?
 2/ Nếu ở vào trường hợp bị phân biệt đối xử như vậy, em sẽ xử sự 
 như thế nào?
1/ Cách cư xử của ông H chưa đúng với quy định của Luật hôn nhân 
và gia đình năm 2014 vì ông H chưa đối xử công bằng với các con của 
mình.
2/ Nếu ở trường hợp bị phân biệt đối xử như vậy, em sẽ nói chuyện 
với bố mẹ của mình để hỏi rõ lí do tại sao em không được đối xử công 
bằng và trình bày mong muốn, nguyện vọng của mình.
 Câu 18. Tình huống . Bạn X có em gái 2 tuổi. Vì công việc bận rộn 
 nên mẹ thường để bạn X trông em. Em gái của bạn X khá năng động 
 nên hay đi khắp nhà để chơi. Có nhiều lần, em gái lục tung sách vở 
 trên bàn học khiến bạn X rất tức giận.
 Thời gian đầu, bạn X còn nhỏ nhẹ nói chuyện với em nhưng càng về 
 sau thì bạn X càng khó chịu và thường xuyên la mắng em. Có lần, 
 em làm vỡ chiếc hộp lưu niệm mà bạn X rất yêu quý nên bạn X đã 
 dùng thước đánh mạnh vào tay em.
 Câu hỏi:
 - Em nhận xét như thế nào về hành vi của bạn X?
 - Nếu là bạn thân của bạn X và biết chuyện này, em sẽ tư vấn cho 
 bạn X như thế nào? - Nhận xét: hành vi của bạn X là không đúng, đây là một biểu hiện 
của hành vi bạo lực gia đình: la mắng, đánh em (bạo lực về thể chất và 
tinh thần).
- Lời khuyên: Nếu là bạn thân của X, em nên khuyên X:
+ Chấm dứt và không được lặp lại hành vi bạo lực với em gái nữa.
+ Bao dung hơn với em (vì em gái của X còn nhỏ tuổi, em chưa ý thức 
được hành động), quan tâm và yêu thương em.
+ Cất gọn đồ dùng của cá nhân hoặc những đồ dùng có thể gây nguy 
hiểm, như: dao, kéo, phích nước ở xa tầm với của em gái.
 Câu 19. Tình huống 2. Chiều nay, khi đang học bài, bạn P nhìn vào 
 trong gương và thấy mặt mình có vết bầm tím. Cũng may là bạn P 
 có mái tóc dài nên có thể che đi vết bầm để không ai biết. Đang hồi 
 tưởng lại trận đòn ngày hôm qua thì có tiếng của dì từ bếp vọng lên: 
 "Lại học nữa. Ăn rồi suốt ngày học. Đã quét nhà chưa mà còn ngồi 
 đó hả?”. Vừa nghe xong, bạn P liền đứng dậy để đi quét nhà trong 
 khi còn rất nhiều bài tập chưa làm xong. Bạn P sợ nếu mình không 
 làm theo lời dì ngay thì sẽ bị ăn đòn. Bạn P suy nghĩ sẽ gọi điện cho 
 mẹ ruột của mình để chia sẻ nhưng lại sợ làm cho mẹ lo lắng. Bạn P 
 rất buồn và không biết nên làm thế nào.
 Câu hỏi: Theo em, bạn P nên ứng xử như thế nào để không bị bạo 
 lực gia đình?
* Trả lời: Để không bị bạo lực gia đình, bạn P nên:
- Nhẹ nhàng giải thích để dì hiểu rằng: bản thân còn nhiều bài tập cần 
phải hoàn thành, em sẽ cố gắng giúp dì những các công việc nhà phù 
hợp (khi trao đổi, cần tỏ thái độ hòa nhã, chân thành; tránh những lời 
nói, chủ chỉ, thái độ tiêu cực, mang tính thách thức).
- Tâm sự, chia sẻ hoàn cảnh với người thân, như: bố, mẹ ruột, ông 
bà, để nhờ mọi người can thiệp, giúp đỡ hoặc gọi điện đến tổng đài 
Bảo vệ trẻ em 111 để được hỗ trợ.
 Câu 20. Tình huống. Bạn X sống trong gia đình ba thế hệ gồm có 
 ông bà nội, bố mẹ, bạn X và em trai. Các thành viên trong gia đình luôn hoà thuận, vui vẻ với nhau. Ông bà nội dù đã lớn tuổi nhưng 
 vẫn luôn yêu thương, chăm sóc cho nhau và thường xuyên dạy dỗ 
 con cháu những điều hay, lẽ phải. Bố của bạn X là người có tư tưởng 
 cởi mở nên luôn sẵn sàng chia sẻ công việc gia đình với vợ và luôn 
 cố gắng dành thời gian cho các con. Mỗi ngày, cả nhà bạn X thường 
 ăn tối cùng nhau trong bầu không khí ấm áp của tình thân. Do mỗi 
 người đều tôn trọng và quan tâm lẫn nhau nên gia đình bạn X luôn 
 ngập tràn hạnh phúc, tiếng cười. Bạn X luôn tự hào và hay kể với 
 bạn bè về gia đình mình.
 Câu hỏi:
 - Theo em, gia đình bạn X đã làm gì để không xảy ra bạo lực gia 
 đình?
 - Em rút ra được bài học gì để áp dụng cho bản thân và gia đình 
 mình?
 Trả lời câu hỏi tình huống 3:
- Để không xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, các thành viên trong gia 
đình bạn X đã luôn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, tôn trọng và giúp 
đỡ lẫn nhau.
- Bài học cho bản thân:
+ Quan tâm, chia sẻ, yêu thương, tôn trọng và gắn bó với các thành 
viên trong gia đình.
+ Thực hiện đúng những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ 
của công dân trong gia đình.
+ Lên án, phê phán những hành vi bạo lực gia đình.
+ Trang bị kiến thức, kĩ năng về phòng, chống bạo lực gia đình.
 .

Tài liệu đính kèm:

  • docxbai_giang_giao_duc_cong_dan_8_bai_7_phong_chong_bao_luc_gia.docx